Tư vấn ngay: 096 343 00 86
GIỚI THIỆU VỀ LIỆU PHÁP TẾ BÀO: LIỆU PHÁP ĐƠN BÀO
Thuật ngữ liệu pháp tế bào (cell therapy) dùng để chỉ việc chuyển vật liệu tế bào vào bệnh nhân cho mục đích điều trị. Nguồn tế bào này có thể lấy từ chính người bệnh (tự thân – autologous) hoặc lấy từ người khác (đồng loại – allogenic). Liệu pháp tế bào bao gồm nhiều lĩnh vực điều trị, bao gồm liệu pháp miễn dịch, liệu pháp điều trị ung thư và liệu pháp tái tạo. Các loại liệu pháp tế bào bao gồm liệu pháp đơn bào (dựa trên tế bào gốc và không dựa trên tế bào gốc) cũng như liệu pháp đa bào.

1. Liệu pháp tế bào gốc

Tế bào gốc là những tế bào chưa biệt hóa, có khả năng tự đổi mới và biệt hóa thành các loại tế bào khác. Tế bào gốc có thể được sử dụng trong điều trị như tế bào gốc đa tiềm năng, tế bào gốc trưởng thành, hoặc được nhắm mục tiêu điều trị như tế bào gốc ung thư.

Tế bào gốc đa tiềm năng (Pluripotent stem cell – PSC) là một loại tế bào gốc có khả năng biệt hóa thành bất kỳ loại tế bào chuyên hóa nào trong cơ thể. Những khả năng này khiến chúng trở thành nguồn tế bào hấp dẫn cho liệu pháp điều trị. Tuy nhiên, các vấn đề về đạo đức nảy sinh đối với các tế bào có nguồn gốc từ phôi người (tế bào gốc phôi) khiến việc sử dụng chúng trở thành một liệu pháp gây tranh cãi. Các vấn đề bổ sung có thể phát sinh như sự đào thải miễn dịch của vật chủ. Những thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành để đánh giá tính an toàn và hiệu quả của chúng như một công cụ tái tạo để biệt hóa tế bào và sửa chữa mô. 

Tế bào gốc trưởng thành (Adult stem cell – ASC) là những tế bào gốc thu nhận từ cơ thể trưởng thành, cần thiết cho sự phát triển của cơ thể và thay thế các tế bào chết. Các tế bào này bao gồm tế bào gốc da, tế bào gốc thần kinh, tế bào gốc trung mô, tế bào gốc tạo máu. Các loại tế bào này đã được sử dụng trong y học để tái tạo và thiết lập lại cân bằng mô sau khi bị tổn thương, cũng như đang được nghiên cứu để điều trị một số bệnh ung thư.

Tế bào gốc ung thư (Cancer stem cell – CSC) được tìm thấy trong nhiều loại khối u, bao gồm cả u đặc và ung thư máu. Giống như các tế bào gốc khác, chúng có khả năng tự đổi mới, cũng như biệt hóa tạo thành khối u. Những tế bào này được cho là góp phần gây ra nhiều khối u ác tính, chẳng hạn như tái phát, di căn và không đồng nhất, cũng như kháng nhiều loại thuốc và xạ trị. Chúng được coi là mục tiêu điều trị đầy hứa hẹn kể từ lần đầu tiên được xác định trong bệnh bạch cầu

2. Liệu pháp tế bào không dựa trên tế bào gốc

Các liệu pháp không phải tế bào gốc thường sử dụng các tế bào soma được phân lập từ cơ thể người, nuôi cấy tăng sinh và cấy ghép vào bệnh nhân như một liệu pháp điều trị bệnh, hoặc phòng ngừa, chẩn đoán. Liệu pháp không phải tế bào gốc có thể được phân nhóm thành tế bào miễn dịch hoặc không phải tế bào miễn dịch.

Các tế bào không phải tế bào miễn dịch như nguyên bào sợi, tế bào sụn, tế bào sừng, tế bào gan, tế bào đảo tụy. Các liệu pháp này có tiến triển chậm do những rào cản về công nghệ và dữ liệu hiệu quả hỗ trợ hạn chế, ngoài trừ cấy ghép tế bào đảo tụy trong điều trị thiếu hụt insulin, tiểu đường và viêm tụy đã phát triển ở nhiều quốc gia. Liệu pháp tế bào nguyên bào sợi cũng đang được sử dụng như một phương pháp thay thế cho liệu pháp tế bào gốc trung mô (MSC).

Tế bào miễn dịch bao gồm tế bào đuôi gai hay tế bào tua (DC), tế bào giết tự nhiên (NK) và đại thực bào. Các tế bào có thể được sử dụng trực tiếp như tế bào T điều hòa, tế bào lympho thâm nhiễm khối u (TIL), tế bào T gây độc (CTL) đã được sử dụng như một liệu pháp điều trị trong nhiều bệnh lý, đặc biệt là ung thư. Những tế bào miễn dịch cũng có thể được biến đổi sinh học để nhắm đích vào các kháng nguyên cụ thể trên tế bào mục tiêu, như thế bào T hoặc tế bào NK mang thụ thể kháng nguyên khảm (CAR-T hoặc CAR-NK).


NGUỒN
https://www.technologynetworks.com/biopharma/articles/an-introduction-to-cell-therapy-381630