LIỆU PHÁP TẾ BÀO
Thuật ngữ liệu pháp tế bào (cell therapy) dùng để chỉ việc chuyển vật liệu tế bào vào bệnh nhân cho mục đích điều trị. Liệu pháp tế bào bao gồm nhiều lĩnh vực điều trị như liệu pháp tế bào gốc, liệu pháp tế bào miễn dịch, liệu pháp tế bào cải biến gen,...
TẾ BÀO GỐC TRUNG MÔ (MSC) CÓ KHẢ NĂNG CHỐNG LẠI TÁC DỤNG PHỤ GÂY TIỂU ĐƯỜNG CỦA THUỐC MIỄN DỊCH ĐIỀU TRỊ UNG THƯ
Một chiến lược mà các tế bào khối u tránh được sự nhận diện của hệ thống miễn dịch là tăng cường điều chỉnh các yếu tố gây cản trở tín hiện đến tế bào miễn dịch (cơ chế này gọi là điểm kiểm soát miễn dịch). Ví dụ, phân tử PD-L1 ở tế bào ung thư liên kết với PD-1 trên tế bào T làm ức chế sự kích hoạt tế bào T (Hình 2). Các thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch hiện đang được sử dụng rộng rãi để điều trị bệnh ung thư (như Nivolumab, Pembrolizumab kháng PD-1, hay Atezolizumab, Durvalumab kháng PD-L1,…), tuy nhiên tác dụng phụ nghiêm trọng là gây nên các bệnh tự miễn, phổ biến nhất là tiểu đường type 1.
20/01/2026
TẾ BÀO MIỄN DỊCH
Tế bào miễn dịch là những tế bào có nhiệm vụ bảo vệ cơ thể khỏi tác nhân gây hại như vi khuẩn, virus, nấm, ký sinh trùng bằng cách phát hiện, tiêu diệt và loại bỏ chúng, hình thành nên hàng rào phòng thủ của cơ thể.
19/01/2026
CÁC SẢN PHẨM TẾ BÀO GỐC TRUNG MÔ (MSC) ĐƯỢC CẤP PHÉP TRÊN THẾ GIỚI
Tế bào gốc/đệm trung mô (Mesenchymal stem/stromal cell – MSC) là loại tế bào được phân lập từ nhiều mô khác nhau trong cơ thể, có khả năng tự tăng sinh và biệt hóa thành các tế bào thuộc mô liên kết (mỡ, xương, sụn,…) và nhiều loại tế bào khác trong cơ thể. Tế bào gốc trung mô có thể tiềm năng điều trị nhiều bệnh khác nhau từ các cơ quan như hệ thần kinh, tim mạch, xương khớp, gan, thận, bệnh tự miễn,...
19/01/2026
TẾ BÀO GỐC TRUNG MÔ (MSC)
Tế bào gốc trung mô (MSC) có khả năng tự tăng sinh và biệt hóa thành nhiều loại tế bào trong cơ thể, là một trong những loại tế bào đang được nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng nhiều nhất hiện nay.
19/01/2026
GIỚI THIỆU VỀ LIỆU PHÁP TẾ BÀO: LIỆU PHÁP ĐA BÀO
Liệu pháp đa bào: được định nghĩa là liệu pháp chứa ít nhất hai loại tế bào gốc và/hoặc không phải tế bào gốc được nuôi cấy từ tế bào riêng biệt hoặc chiết xuất mô. Một số ý kiến gần đây cho rằng sự kết hợp nhiều loại tế bào rất quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình sửa chữa mô lâu dài so với liệu pháp đơn bào, dựa trên sự tương tác tế bào – tế bào khác loại.
Một số loại liệu pháp đa bào phổ biến như:
- Liệu pháp lấy tủy xương (Bone marrow aspirate): tủy xương gồm nhiều loại tế bào khác nhau như tế bào gốc tạo máu (HSC), tế bào gốc trung mô (MSC), các tế bào tiền thân (progenitor cell), tế bào lympho, bạch cầu đơn nhân,… Liệu pháp dựa trên lấy tủy xương bao gồm nhiều cơ chế hoạt động thúc đẩy quá trình sửa chữa mô và điều hòa miễn dịch.
- Liệu pháp ghép tế bào gốc (ghép tế bào gốc tạo máu): bao gồm cấy ghép tế bào gốc từ ba nguồn: tủy xương, máu ngoại vi và máu dây rốn. Chúng thường được sử dụng trong các trường hợp tế bào gốc của cơ thể bị tổn hại, thường là do bệnh ác tính về huyết học hoặc liệu pháp điều trị ung thư, để tạo điều kiện phục hồi sau điều trị và thúc đẩy khả năng dung nạp của hệ thống miễn dịch.
- Các sản phẩm liệu pháp tế bào miễn dịch (adoptive cell therapy, cellular immunotherapy) là liệu pháp đa bào bao gồm các dòng tế bào lympho khác nhau, bao gồm tế bào T và B. Các chiến lược dựa trên liệu pháp tế bào miễn dịch liên quan đến việc quản lý các tế bào này đã được biến đổi hoặc trú ngụ trong khối u để tạo ra các phản ứng miễn dịch. Trong nhóm này, các tế bào giết hoạt hóa bởi lymphokine (lymphokine-activated killer – LAK) và các tế bào giết cảm ứng bởi cytokine (cytokine-induced killer – CIK) đã được sử dụng để điều trị nhiều bệnh lý huyết học ác tính và các bệnh ung thư u đặc. LAK là các tế bào đơn nhân máu ngoại vi được hoạt hóa bởi IL-2, các tế bào NK hay NK T và T đều có thể trở thành tế bào LAK. CIK là hỗn hợp không đồng nhất của các tế bào lympho và NK T được hình thành từ tế bào đơn nhân máu ngoại vi hoặc kích thích tế bào tủy xương với anti-CD3, IL-2, IL-1 và IFN-γ.
- Phân đoạn mạch nền (stromal vascular fraction – SVF) là hỗn hợp không đồng nhất của nhiều loại tế bào, thu được từ quá trình xử lý mô mỡ, bao gồm tế bào gốc mỡ (ASC), bạch cầu đơn nhân, tế bào lympho, tế bào quanh mạch (pericyte), tế bào tiền thân nội mô,… SVF đã được nghiên cứu để sử dụng lâm sàng nhằm kích thích tạo mạch máu mới, sửa chữa mô và điều hòa miễn dịch.
- Các sản phẩm tế bào dựa trên giá thể (Scaffold-based cellular) là những sản phẩm chứa nhiều loại tế bào khác nhau được cấy lên vật liệu polymer 3D tự nhiên hoặc tổng hợp, từ đó mô phỏng cấu trúc mô của cơ thể. Các tế bào này được bảo vệ bởi một chất nền ngoại bào đặc hiệu mô do các tế bào tiết ra, nhờ đó có thể bám dính và tham gia cấu trúc vào bề mặt sinh học, ví dụ như các tấm tế bào dùng để điều trị vết thương hở.
19/01/2026
GIỚI THIỆU VỀ LIỆU PHÁP TẾ BÀO: LIỆU PHÁP ĐƠN BÀO
Thuật ngữ liệu pháp tế bào (cell therapy) dùng để chỉ việc chuyển vật liệu tế bào vào bệnh nhân cho mục đích điều trị. Nguồn tế bào này có thể lấy từ chính người bệnh (tự thân – autologous) hoặc lấy từ người khác (đồng loại – allogenic). Liệu pháp tế bào bao gồm nhiều lĩnh vực điều trị, bao gồm liệu pháp miễn dịch, liệu pháp điều trị ung thư và liệu pháp tái tạo. Các loại liệu pháp tế bào bao gồm liệu pháp đơn bào (dựa trên tế bào gốc và không dựa trên tế bào gốc) cũng như liệu pháp đa bào.
19/01/2026
PHỤC HỒI THỊ LỰC CHO CÁC BỆNH NHÂN THIẾU TẾ BÀO GỐC RÌA GIÁC MẠC BẰNG PHƯƠNG PHÁP CẤY GHÉP CÁC TẤM BIỂU MÔ GIÁC MẠC TẠO NÊN TỪ TẾ BÀO GỐC
Giác mạc của mắt được phủ một lớp biểu mô phân tầng, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì thị lực. Tại rìa giác mạc có một kho tế bào gốc ở đáy, có vai trò tăng sinh để cung cấp các tế bào biểu mô cho trung tâm giác mạc. Khi không có hoặc không đủ số lượng tế bào gốc này, bệnh nhân mắc phải tình trạng thiếu tế bào gốc rìa giác mạc (limbal stem-cell deficiency – LSCD), khiến cho việc tái tạo biểu mô không còn đảm bảo, bề mặt giác mạc bị bao phủ bằng mô kết mạch xơ hóa, dẫn đến mất thị lực.
19/01/2026
TẾ BÀO GỐC TẠO MÁU VÀ ỨNG DỤNG TRONG LÂM SÀNG - GHÉP TẾ BÀO GỐC TẠO MÁU
Tế bào gốc tạo máu (Hematopoietic Stem Cells – HSCs) là những tế bào nguyên thủy, chưa trưởng thành, có thể tự đổi mới, đồng thời có thể biệt hóa thành tất cả các loại tế bào máu bao gồm: bạch cầu, hồng cầu, và tiểu cầu.
19/01/2026
TẾ BÀO GỐC TẠO MÁU (HSC)
Tế bào gốc tạo máu (Hematopoietic Stem Cells – HSCs) là những tế bào nguyên thủy, chưa trưởng thành, có thể tự đổi mới, đồng thời có thể biệt hóa thành tất cả các loại tế bào máu bao gồm: bạch cầu, hồng cầu, và tiểu cầu.
19/01/2026
TẾ BÀO GỐC ĐA TIỀM NĂNG CẢM ỨNG (IPSC): TÁI LẬP TRÌNH TẾ BÀO SOMA
Tế bào gốc đa tiềm năng cảm ứng được tạo ra trực tiếp từ tế bào soma bằng cách tái lập trình (giải biệt hóa) để đưa chúng về trạng thái đa tiềm năng.
19/01/2026
TẾ BÀO GỐC ĐA TIỀM NĂNG
Tế bào gốc đa tiềm năng là các tế bào có khả năng biệt hóa thành tất cả các loại tế bào có trong cơ thể, nhưng không biệt hóa được thành các tế bào thuộc phần phụ ngoài phôi (nhau thai, cuống rốn) nên không phát triển được thành cơ thể hoàn chỉnh.
19/01/2026