Hiệu quả điều trị bệnh hồng cầu hình liềm bằng phương pháp ghép tủy xương từ người hiến “phù hợp một nửa” (haploidentical)

Bệnh hồng cầu hình liềm (hay thiếu máu hồng cầu hình liềm – Sickle cell anemia) là một dạng thiếu máu di truyền do đột biến gen sản xuất hemoglobin – hợp chất không thể thiếu trong cấu trúc hồng cầu, dẫn đến không có đủ các tế bào hồng cầu khỏe mạnh để vận chuyển oxy trong cơ thể. Khác với người bình thường có các tế bào hồng cầu hình đĩa và linh hoạt, trong cơ thể người bệnh hồng cầu hình liềm, các tế bào hồng cầu trở nên cứng, dính và có hình dạng giống như lưỡi liềm hoặc mặt trăng khuyết, chúng không vận chuyển được oxy, đồng thời dễ bị mắc kẹt trong mạch máu làm chậm hoặc ngăn chặn các hồng cầu khác mang oxy đến các bộ phận của cơ thể. Liệu pháp tế bào và chỉnh sửa gen được kỳ vọng có thể điều trị bệnh một cách hiệu quả, trong đó một số sản phẩm đã được cấp phép chính thức, ví dụ Lyfgenia (lovotibeglogene autotemcel) và Casgevy (exagamglogene autotemcel) được FDA Hoa Kỳ phê duyệt cuối năm 2023.

Theo một thử nghiệm được hoàn thành tại Anh mới đây, một quy trình cấy ghép tủy xương đã được chứng minh là an toàn và có thể chữa khỏi bệnh cho bệnh nhân mắc hồng cầu hình liềm, với chi phí thấp hơn so với các sản phẩm liệu pháp chỉnh sửa gen. Kết quả thử nghiệm mới được đăng tải trên tạp chí NEJM Evidence cuối tháng 02/2025.

Đây là một thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm giai đoạn II (mã số NCT03263559), nhãn mở, thử nghiệm phương pháp ghép tủy xương đơn bội cường độ giảm. Ghép tủy xương cung cấp cho bệnh nhân các tế bào gốc tạo máu được lấy từ người hiến khỏe mạnh, những tế bào này sẽ tạo ra những tế bào máu bình thường không mang đột biến gây ra hồng cầu hình liềm. Tủy xương được lấy từ người hiến tặng "phù hợp một nửa” (haploidentical) về các dấu hiệu miễn dịch với bệnh nhân để hạn chế sự đào thải miễn dịch, ví dụ như cha mẹ, con cái, anh chị em ruột, cháu trai/cháu gái, chú dì hoặc anh chị em họ của bệnh nhân. Điều này có nghĩa là các yếu tố miễn dịch có mặt và hoạt động trên các tế bào tủy của người hiến phải phù hợp với ít nhất một nửa các yếu tố đó trên các tế bào của người nhận.

Trong số 54 người tham gia nghiên cứu (độ tuổi từ 15,5 đến 43,2), có 42 người được ghép tủy xương, trước khi ghép được hóa trị liều thấp và xạ trị toàn thân, sau ghép được dùng cyclophosphamide và một số loại thuốc khác (mycophenolate mofetil, sirolimus, fludarabine,…) để tránh mảnh ghép chống chủ (GvHD). Kết quả cho thấy sau 2 năm điều trị, 95% bệnh nhân vẫn còn sống sót, với 88% bệnh nhân sống sót không có biến cố bất lợi (chỉ có 2 người bị suy ghép nguyên phát, 1 người bị suy ghép thứ phát). Tỷ lệ mắc GvHD cấp tính độ 3-4 vào ngày 100 chỉ là 4,8%, trong khi tỷ lệ GvHD mạn tính sau 2 năm là 22,4%. Có 2 trong số 4 trường hợp tử vong được xác định do biến chứng nhiễm trùng sớm. Những kết quả trên chứng minh phương pháp này có tỷ lệ thành công rất cao, tương đương hoặc tốt hơn những sản phẩm liệu pháp gen đã được phê duyệt.

Các nhà nghiên cứu cũng thực hiện so sánh phương pháp này và liệu pháp gen. Phương pháp ghép tủy xương có thể áp dụng với hầu hết các bệnh nhân hồng cầu hình liềm, trong khi liệu pháp gen đòi hỏi bệnh nhân cần trải qua hóa trị liều cao, có nguy cơ tổn thương một số cơ quan đích hoặc nguy cơ mắc bệnh bạch cầu, nên nhiều người không đủ điều kiện thực hiện. Một ca ghép tủy chỉ yêu cầu bệnh nhân nằm viện khoảng 8 ngày, còn đối với liệu pháp gen là 6-8. Số lần truyền máu trung bình sau khi ghép tủy xương là 6, thấp hơn nhiều con số 50 lần khi điều trị bằng liệu pháp gen. Tổng chi phí cho một ca ghép tủy xương thấp hơn 4-6 lần so với một ca điều trị bằng liệu pháp gen.

Đây là một tín hiệu rất tích cực trong điều trị bệnh hồng cầu hình liềm, với tỷ lệ thành công cao, an toàn, chi phí thấp. Đồng thời, bệnh nhân được tăng cơ hội điều trị do không cần tìm người hiến hoàn toàn phù hợp miễn dịch mà chỉ cần cấy ghép phù hợp một nửa.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Kassim A. A., et al. (2025). Haploidentical bone marrow transplantation for sickle cell disease. NEJM evidence, 4(3). DOI: https://doi.org/10.1056/EVIDoa2400192.