Điều trị viêm khớp gối bằng tế bào gốc trung mô từ mô mỡ (AD-MSC): nguồn tự thân hay đồng loại cho hiệu quả tốt hơn?

Liệu pháp tế bào gốc trung mô từ mô mỡ (AD-MSC) là một phương pháp mang đến nhiều hy vọng trong điều trị viêm khớp gối. AD-MSC có thể được thu nhận từ chính bệnh nhân (tự thân) hoặc từ người hiến (đồng loại), mỗi nguồn đều có những ưu điểm nhất định trong điều trị.

Viêm khớp gối là bệnh khớp phổ biến nhất, dẫn đến đau mạn tính, chất lượng cuộc sống kém và tăng tỷ lệ tỷ vong, gây nên gánh nặng xã hội lớn. Hiện tại, các phương pháp điều trị không phẫu thuật (như thuốc chống viêm không steroid – NSAID, corticosteroid nội khớp, tiêm axit hyaluronic) có tác dụng làm giảm triệu chứng nhưng không ngăn chặn được sự tiến triển của bệnh.

Gần đây, liệu pháp tế bào gốc trung mô (MSC) đã nổi lên như một phương pháp tái tạo đầy hứa hẹn, với những tác dụng điều chỉnh tình trạng viêm, thúc đẩy sửa chữa mô và cải thiện chức năng khớp. Trong số các nguồn thu nhận, MSC từ mô mỡ (AD-MSC) đã thu hút được sự quan tâm đáng kể do dễ thu thập và khả năng tăng sinh mạnh, đặc biệt là những bằng chứng cho thấy liều tế bào cao có khả năng mang lại hiệu quả tốt và kéo dài hơn. AD-MSC có thể là tự thân (từ mô của chính bệnh nhân) hoặc đồng loại (từ người hiến tặng), trong đó AD-MSC tự thân có lợi thế về khả năng tương thích miễn dịch, giảm nguy troncơ đào thải, tồn tại lâu hơn trong môi trường khớp, hiệu quả giảm đau nhanh hơn, nhưng AD-MSC đồng loại cung cấp một lựa chọn điều trị có sẵn với tác dụng điều hòa miễn dịch mạnh hơn, hiệu quả tái tạo bền vững.

Trong một báo cáo mới công bố ngày 21/04/2025, Kasagga và cộng sự đã thực hiện một phân tích tổng hợp các nghiên cứu về tiêm AD-MSC nội khớp ở người lớn mắc viêm khớp gối độ II-IV theo thang Kellgren-Lawrence để so sánh đánh giá hiệu quả và độ an toàn của tế bào tự thân và đồng loại. Họ đã tìm được 994 báo cáo từ các cơ sở dữ liệu PubMed/MEDLINE, Cochrane Central Register of Controlled Trials (CENTRAL), Embase, ClinicalTrials.gov, Web of Science và WHO International Clinical Trials Registry Platform (ICTRP), từ đó lọc theo các tiêu chuẩn toàn diện và nghiêm ngặt để có được 8 nghiên cứu có tính nhất quán cao để đưa vào các phân tích theo cặp và phân tích tổng hợp. Can thiệp tiêm nội khớp với AD-MSC được phân loại thành tế bào đồng loại liều thấp, đồng loại liều cao và tự thân liều cao, với đối chứng là giả dược và chăm sóc tiêu chuẩn (corticosteroid, tiêm axit hyaluronic, vật lý trị liệu). Các kết quả chính bao gồm giảm đau (đo bằng thang điểm tương tự trực quan – VAS), cải thiện chức năng (đo bằng chỉ số thoái hóa khớp WOMAC) sau 3, 6 và 12 tháng, ngoài ra còn đánh giá các tác dụng phụ để xác định biện pháp hiệu quả nhất dựa trên xác suất xếp hạng tích lũy bề mặt – SUCRA.

Có thể là hình ảnh về 1 người, bệnh viện và văn bản cho biết 'Visual Summary of AD-MSC Therapy for Knee Osteoarthritis. Cell Source and Preparation TreatmentAdministration Treatment Administration Key Outcomes Adipose-tissue lipose-tissue harvest piane Processing VAS Pain relief WOMAC Functional improvement AD-MSCs AD- 100- 75- AD-MSCs Injection Ultrasound-Guidec Intra-Articular Ultrasund-GuielInrt-Artahi Injection 50 + 25 SafetyProfile Safety Profile B SUCRA Treatment Trealmentrankings rankings'
Tổng quan về liệu pháp AD-MSC cho bệnh thoái hóa khớp gối.
Các từ viết tắt: AD-MSC: tế bào gốc trung mô từ mô mỡ, VAS: Thang đo tương tự thị giác, WOMAC: Chỉ số viêm xương khớp của trường đại học Tây Ontario và McMaster, SUCRA: Xác suất xếp hạng tích lũy bề mặt.
Hình ảnh đã chỉnh sửa từ hình ảnh gốc của tác giả Kasagga tạo ra trong BioRender https://BioRender.com/i0bfce2).

Các phân tích so sánh đã chỉ ra rằng AD-MSC tự thân liều cao có khả năng giảm đau cao nhất sau 3, 6 và 12 tháng (đánh giá theo thang VAS), trong khi AD-MSC đồng loại liều cao có khả năng cải thiện chức năng kém nguồn tự thân sau 3 tháng nhưng thể hiện tốt nhất ở thời điểm 6 và 12 tháng (theo WOMAC), tế bào đồng loài liều thấp cho kết quả kém nhất ở cả hai tiêu chí này. Khi đánh giá các tác dụng phụ, tế bào tự thân có độ an toàn cao vượt trội so với tế bào đồng loại, đồng thời các biến cố bất lợi nghiêm trọng rất hiếm và không liên quan đến điều trị. Điều này cho thấy nguồn tế bào (tự thân hay đồng loài) và liều tế bào đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định tiến trình và hiệu quả điều trị. Các xu hướng lâm sàng đó có thể được giải thích bằng ba cơ chế chính của liệu pháp AD-MSC: (1) truyền tín hiệu cận tiết, làm giảm triệu chứng sớm thông qua các cytokine chống viêm; (2) điều hòa miễn dịch, làm thay đổi các con đường viêm và thúc đẩy khả năng dung nạp miễn dịch; (3) tái tạo mô, cho phép sửa chữa cấu trúc lâu dài của các mô khớp.

Có thể là đồ họa về ‎văn bản cho biết '‎A a0 SUCRA Rankings Over Time for Different Treatments (VAS) 70 60 10 Traatmant Contr Hinh Allugeneic Hiat High pese Lon Duse 30 20 10 Months B Manths rime (Months) 80 12 Months 70 SUCRA Rankings Over Time for Different Treatments WOMAC) 60 50 40 Traatmant Controi Dese Allugeneic High Dean_Autolognu - Dean_ Lon Duse ושרשנםות 30 20 10 3 Months Manths rime (Monts) 12 Months‎'‎
Xếp hạng tổng thể của SUCRA theo các thời điểm
(A) Xếp hạng SUCRA cho điểm VAS ở thời điểm 3, 6 và 12 tháng, với AD-MSC tự thân liều cao có khả năng giảm đau cao nhất; (B) Xếp hạng SUCRA cho điểm WOMAC, với AD-MSC tự thân liều cao cải thiện chức năng tốt nhất ở thời điểm 3 tháng, nhưng AD-MSC đồng loại liều cao có khả năng cải thiện chức năng tốt nhất ở thời điểm 6 và 12 tháng.
Có thể là đồ họa về văn bản cho biết 'A 1.00 100 Control 75 0.75 Penenon Danenen 0.50 0.25 1oy) 1 High Dose Autologous 50- 25 0.00 High Dose MpgOnse Allogeneic Dose Allogeneic 0 Rank B SUCRA (%) 100 Allogeneic Alegenato Low Dose 80 60 ontrol 40 0 High Allogeneic Dose សយូ Autologous Dose High'
Tính an toàn của liệu pháp thể hiện qua biểu đồ xếp hạng SUCRA trên các biến cố bất lợi.
(A) Biểu đồ thứ hạng xuyên tâm, (B) Biểu đồ thứ hạng xác suất.

Tóm lại, AD-MSC tự thân liều cao cung cấp khả năng giảm đau kéo dài, trong khi AD-MSC đồng loại liều cao cho thấy sự cải thiện chức năng lâu dài vượt trội. Những phát hiện này có thể mở ra mô hình điều trị hai giai đoạn trong sử dụng loại tế bào này trên bệnh nhân viêm khớp gối, trong đó nguồn tự thân cung cấp khả năng giảm triệu chứng sớm, và nguồn đồng loại hỗ trợ phục hồi khớp. Nhìn chung, liệu pháp AD-MSC được dung nạp tốt và trở thành một chiến lược điều trị cá nhân hóa cho thoái hóa khớp gối không phẫu thuật một cách an toàn và hiệu quả.

 

Tài liệu tham khảo:

Kasagga A, et al. (2025). Autologous Versus Allogeneic Adipose-Derived Mesenchymal Stem Cell Therapy for Knee Osteoarthritis: A Systematic Review, Pairwise and Network Meta-Analysis of Randomized Controlled Trials. Cureus 17(4): e82713. https://doi.org/10.7759/cureus.82713