Liệu pháp tế bào T tự thân nhắm đích nhiều kháng nguyên cho thấy triển vọng trong điều trị ung thư tuyến tụy

Một bài báo gần đây trên tạp chí Nature Medicine về thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I/II có tên TACTOPS, nghiên cứu về tính an toàn và hiệu quả lâm sàng của liệu pháp tế bào T tự thân nhắm vào nhiều kháng nguyên liên quan đến khối u (Tumor-Associated Antigen, TAA) của ung thư tuyến tụy, đã cho thấy kết quả đầy hứa hẹn.

Tuyến tụy là cơ quan nằm sâu sau dạ dày, có chức năng tiết enzyme tiêu hóa nhiều thành phần trong chức năng, đồng thời tiết hormone insulin và glucagon để điều hòa đường huyết. Ung thư tuyến tụy là tình trạng tế bào tụy phát triển mất kiểm soát tạo nên khối u, dạng ung thư này thường phát hiện muộn, tiên lượng xấu do tụy nằm sâu và các triệu chứng bệnh không rõ ràng.

Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học phát triển một liệu pháp để điều chỉnh hệ miễn dịch nhắm vào 5 TAA khác nhau có trên các tế bào ung thư tuyến tụy, nhằm đối phó với bản chất đa dòng của bệnh. Các bệnh nhân tham gia nghiên cứu được phân vào một trong ba nhóm: bệnh nhân giai đoạn tiến triển đáp ứng với hóa trị bước một (nhóm A), bệnh nhân giai đoạn di căn đã kháng hóa trị bước một (nhóm B) và bệnh nhân có thể phẫu thuật cắt bỏ khối u (nhóm C). Những bệnh nhân này được lấy máu để sản xuất liệu pháp tế bào T tự thân (tổng cộng 37 bệnh nhân được tuyển chọn, sản xuất được và sử dụng liệu pháp tế bào T).

Có thể là hình ảnh về văn bản
Kết quả theo dõi lâm sàng
Biểu đồ Swimmers mô tả thời gian đáp ứng trung bình sau khi truyền TAA ở các bệnh nhân nhóm A (hình a), nhóm B (hình b) và nhóm C (hình c). Thời gian sống sót được hiển thị cho sống sót tổng thể (hình d, tất cả các nhóm), sống sót không biến cố (hình e, tất cả các nhóm) và sống không tái phát (hình f, chỉ các bệnh nhân phẫu thuật ở nhóm C). Thời gian theo dõi từ 1 đến 12 tháng sau lần truyền cuối cùng.

Kết quả cho thấy nhóm A và C có những tín hiệu khả quan, với tỷ lệ kiểm soát bệnh (disease control rate, DCR) đạt 84,6% ở nhóm A, còn nhóm C có 2/9 bệnh nhân được cắt u đã không tái phát bệnh sau hơn 5 năm phẫu thuật. Ở nhóm B, tỷ lệ kiểm soát bệnh đạt 25%. Trung vị thời gian sống toàn bộ (overall survival, OS) của các bệnh nhân ở nhóm A là 14,1 tháng (khoảng tin cậy 95%: 3,6–15,4 tháng), ở nhóm B là 4,4 tháng (khoảng tin cậy 95%: 1,5–16,7 tháng), ở nhóm C là 12,6 tháng (khoảng tin cậy 95%: 4,5–45,9 tháng) đối với toàn bộ bệnh nhân và 25,3 tháng (khoảng tin cậy 95%: từ 4,5 tháng đến không có dữ liệu điểm cuối) đối với các bệnh nhân phẫu thuật. Trung vị thời gian sống không có biến cố (event-free survival, EFS) đối với các bệnh nhân nhóm A là 6,4 tháng (khoảng tin cậy 95%: 2,4–9,5 tháng), ở nhóm B là 2,2 tháng (khoảng tin cậy 95%: 1,2–2,5 tháng), ở nhóm C là 7,5 tháng (khoảng tin cậy 95%: 2,6–39,7 tháng) đối với toàn bộ bệnh nhân và 11,5 tháng (khoảng tin cậy 95%: 3,3 tháng đến không có dữ liệu điểm cuối) đối với các bệnh nhân phẫu thuật. Liệu pháp này được dung nạp rất tốt, về tính an toàn thì có 64,9% bệnh nhân gặp biến cố bất lợi, nhưng chỉ có một biến cố bất lợi nghiêm trọng có thể liên quan đến điều trị được ghi nhận ở cả ba nhóm.

Những kết quả lâm sàng trên cùng với những phân tích chuyên sâu trong quá trình theo dõi điều trị đã cho thấy hiệu quả của liệu pháp tế bào này trên một nhóm đa dạng các bệnh nhân ung thư tuyến tụy ở nhiều giai đoạn bệnh khác nhau. Dữ liệu từ nghiên cứu này có thể gợi mở cho thử nghiệm tiếp theo, có thể sử dụng liệu pháp tế bào T đơn lẻ hoặc kết hợp với hóa trị hoặc các liệu pháp miễn dịch khác trong điều trị ung thư tuyến tụy.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Musher B. L., et al. (2026). Autologous multiantigen-targeted T cell therapy for pancreatic cancer: a phase 1/2 trial. Nature Medicine, 1-12. DOI: https://doi.org/10.1038/s41591-025-04043-5