TẾ BÀO UNG THƯ
Kỹ thuật mô và chế tạo sinh học trong xây dựng mô hình ung thư giai đoạn sớm
Phần 1: Vi môi trường khối u ở giai đoạn sớm - nền tảng định hình quá trình khởi phát và tiến triển ung thư
20/10/2026
Vai trò của tương tác giữa đại thực bào liên quan đến khối u và nguyên bào sợi liên quan đến ung thư trong môi trường vi mô của sarcoma mô mềm
Sarcoma là một loại ung thư hiếm gặp phát triển từ các mô liên kết của cơ thể như xương, cơ, mỡ, dây thần kinh, mạch máu,… Sarcoma mô mềm (soft tissue sarcoma – STS) phát triển ở cơ, mỡ, gân, dây chằng, mô xơ, mạch máu, chiếm khoảng 80% các trường hợp sarcoma, là loại ung thư nguy hiểm, với tỷ lệ sống thêm 5 năm chỉ khoảng 15% nếu đã di căn và khoảng 81% nếu chưa lan rộng. Trong STS, vi môi trường khối u (tumor microenvironment – TME) không chỉ hoạt động như một chất nền tăng trưởng cho tế bào ung thư mà còn là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi của khối u và đáp ứng điều trị. TME chứa hai thành phần tế bào trung tâm là đại thực bào liên quan đến khối u (tumor-associated macrophage – TAM) và nguyên bào sợi liên quan đến ung thư (cancer-associated fibroblast – CAF), sự tương tác giữa các tế bào và các phân tử tín hiệu giúp điều chỉnh sự tăng sinh, xâm lấn và di căn của khối u. CAF giải phóng nhiều phân tử tín hiệu như IL-6, TGF-β, PDGF, HIF-1α và SPP1, kích hoạt và thu hút TAM, đồng thời thúc đẩy sự phân cực của chúng về phía kiểu hình M2, được biết đến với hoạt động tiền ung thư. Các cytokine này kích thích sự hình thành mạch máu bất thường, tái cấu trúc chất nền ngoại bào (extracellular matrix – ECM) và cơ chế thoát miễn dịch. Đồng thời, TAM tiết ra IL-34, CSF1R, VEGF và MMP, giúp tăng cường hoạt hóa CAF và thúc đẩy sự tăng sinh và di cư của tế bào khối u. Tương tác hai chiều này tạo ra một vòng lặp: TAM kích hoạt CAF thông qua các yếu tố như SPP1, MMP2/9 và EGF, tăng cường khả năng tái cấu trúc ECM và hỗ trợ khối u xâm lấn của CAF. Ngược lại, CAF tiết ra các chất hoạt hóa PDGF và IL-6/STAT3, thúc đẩy sự tuyển dụng, sự sống sót và sự phân cực của TAM. Hơn nữa, trục này ức chế các phản ứng miễn dịch chống khối u: CAF sản xuất axit lactic và TGF-β, ức chế sự tăng sinh tế bào T, trong khi TAM biểu hiện PD-L1, ngăn chặn hoạt động của tế bào T thông qua con đường PD-1/PD-L1. Nhìn chung, mạng lưới kết hợp TAM-CAF tổ chức lại vi môi trường khối u theo hướng ủng hộ xơ hóa, ức chế miễn dịch và ủng hộ sinh mạch, tăng cường sự tăng sinh, di cư và trốn tránh miễn dịch của tế bào khối u trong các khối u mô mềm. TÀI LIỆU THAM KHẢO Zhou J., et al. (2025). The prognostic role of tumor-associated macrophage and cancer-associated fibroblast interactions in soft tissue sarcoma microenvironments. iScience 28(11): 113851. DOI: https://doi.org/10.1016/j.isci.2025.113851
24/01/2026
Phát hiện “hàng rào” tế bào làm giảm hiệu quả điều trị của liệu pháp CAR-T trong bệnh u lympho
Liệu pháp CAR-T sử dụng các tế bào T mang thụ thể kháng nguyên khảm (Chimeric Antigen Receptor – CAR) được thiết kế nhân tạo, nhờ đó chúng có thể phát hiện đặc hiệu và tiêu diệt các tế bào ung thư. CAR-T đã tạo nên bước đột phá trong điều trị nhiều bệnh lý huyết học ác tính, trong đó có u lympho tế bào B tái phát hoặc kháng trị - loại u lympho không Hodgkin phổ biến nhất. Tuy nhiên, có đến 50% số bệnh nhân được điều trị bằng liệu pháp này không duy trì khả năng đáp ứng ban đầu, hoặc tái phát sau điều trị, thậm chí tử vong. Cơ chế kháng CAR-T của bệnh này vẫn chưa được hiểu rõ hoàn toàn. Trong một nghiên cứu mới đăng trên tạp chí Cancer Cell tháng 5 năm 2025, các nhà khoa học đã phân tích sự khác biệt giữa những bệnh nhân có đáp ứng lâu dài so với nhóm kém đáp ứng với liệu pháp CAR-T. Nhóm tác giả đã phân tích mẫu u lympho của các bệnh nhân: giải trình tự RNA số lượng lớn để phân tích hoạt đột gen tổng thể của toàn bộ mẫu, giải trình tự RNA tế bào đơn để kiểm tra hoạt động gen của từng tế bào, tạo bản đồ vị trí các loại tế bào khác nhau và sự tương tác giữa chúng,… Mục tiêu cuối cùng là xác định các mục tiêu cụ thể trong môi trường vi mô của khối u có thể được điều chỉnh để cải thiện liệu pháp tế bào CAR-T. Nhóm nghiên cứu đã xác định được các tế bào đơn dòng tủy dương tính với CSF1R (một loại thụ thể có mặt trên bề mặt của các tế bào như microglia và đại thực bào, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển, sống sót và duy trì của microglia), còn gọi là tế bào LAMM, tăng đáng kể ở những bệnh nhân đáp ứng kém. Họ phát hiện ra rằng tế bào LAMM ức chế CAR-T thông qua con đường liên quan đến tín hiệu prostaglandin E2 (PGE2), sự tương tác giữa LAMM và một số thụ thể trên tế bào T làm vô hiệu hóa khả năng tăng sinh và tiêu diệt tế bào ung thư của CAR-T. Kết quả này cho thấy các tế bào LAMM hoạt động như một rào cản, bảo vệ khối u khỏi tế bào CAR-T. Tuy nhiên, hiện tại đã có thuốc được phê duyệt với tác dụng ức chế CSF1R (Sotuletinib hay BLZ-945), có thể phá vỡ hàng rào này, khi kết hợp với CAR-T trên mô hình chuột đã cải thiện hiệu quả điều trị một cách đáng kể. Đây có thể là bước đột phá trong chiến lược điều trị cho hàng nghìn bệnh nhân u lympho tế bào B kháng trị với liệu pháp CAR-T. TÀI LIỆU THAM KHẢO Stahl D., et al. (2025). CSF1R+ myeloid-monocytic cells drive CAR-T cell resistance in aggressive B cell lymphoma. Cancer cell. DOI: https://doi.org/10.1016/j.ccell.2025.05.013
22/01/2026
Những dấu hiệu đặc trưng của ung thư (The Hallmarks of Cancer)
1. Khái quát về ung thư Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ung thư là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai trên toàn thế giới với khoảng 20 triệu ca mới mắc và gần 10 triệu người tử vong hằng năm, và có xu hướng ngày càng tăng trong những năm tiếp theo. Ung thư là tập hợp các bệnh lý liên quan đến việc tăng sinh tế bào mất kiểm soát, những tế bào đó có khả năng xâm lấn và phá hủy các mô khác trong cơ thể. Các tế bào ung thư có thể xuất hiện ở một khu vực sau đó lan ra các vùng khác, có thể tạo nên một khối u rõ ràng, nhưng đôi khi cũng có thể được phân bố đều (không tạo nên bướu rõ ràng). Có hơn 100 loại ung thư khác nhau, thường được gọi tên theo cơ quan mà nó phát sinh, ví dụ: ung thư đại trực tràng, ung thư tuyến giáp, ung thư tụy,… Ung thư cũng có thể được gọi theo loại tế bào hình thành chúng như ung thư biểu mô (carcinoma), ung thư mô liên kết (sarcoma), bệnh bạch cầu (leukemia),… Năm 2000, Robert Weinberg và Douglas Hanahan đã mô tả 6 đặc điểm mà hầu hết (nếu không muốn nói là tất cả) các loại ung thư ở người đều có, bên cạnh “đặc điểm hỗ trợ” các tế bào tiền ác tính có được 6 dấu hiệu đặc trưng đó, đây là bài viết gốc về “The Hallmarks of Cancer”. Những tiến bộ trong nghiên cứu ung thư đã thúc đẩy Weinberg và Hanahan cập nhật năm 2011, và gần nhất Hanahan đã xem xét lại danh sách này năm 2022. Những dấu hiệu đặc trưng của ung thư - mô tả mới nhất năm 2022 2. Mô tả đầu tiên năm 2000 về những dấu hiệu đặc trưng của ung thư - Tự cung cấp tín hiệu tăng trưởng: Khác với tế bào bình thường cần có tín hiệu tăng trưởng từ bên ngoài để nhân lên, các tế bào ung thư tự tạo ra hầu hết các tín hiệu tăng trưởng nhằm làm giảm đáng kể hoặc loại bỏ sự phụ thuộc của chúng vào các kích thích bên ngoài. - Không nhạy cảm với các tín hiệu ức chế tăng trưởng: Các tế bào bình thường được điều hòa bởi những tín hiệu kiểm soát, đẩy chúng ra khỏi chu kỳ tế bào và đi vào trạng thái nghỉ tạm thời hoặc biệt hóa sau lần nguyên phân cuối cùng. Các tế bào ung thư tránh các tín hiệu này bằng cách phá vỡ các điểm kiểm soát chu kỳ tế bào, giúp chúng có thể nhân lên vô hạn. - Tránh sự chết tế bào theo chương trình (Apoptosis): Apoptosis là một dạng chết tế bào theo chương trình đóng vai trò quan trọng trong việc loại bỏ các tế bào dư thừa, bị tổn thương hoặc những tế bào sai hỏng, bất thường. Những tế bào ung thư tránh được các cơ chế đưa chúng vào apoptosis và phát triển mất kiểm soát. - Tiềm năng sao chép vô hạn: Các tế bào bình thường sẽ ngừng phân chia tại một thời điểm nhất định do sự rút ngắn đầu mút nhiễm sắc thể (telomere). Các tế bào ung thư mất cơ chế kiểm soát đó nhờ sự kích hoạt enzyme telomerase để kéo dài đầu mút nhiễm sắc thế, giúp chúng phân chia vô hạn và trở thành tế bào bất tử. - Sự hình thành mạch máu: Khối u có thể giải phóng các tín hiệu kích thích tạo mạch máu, nhờ đó có nguồn cung cấp oxy và chất dinh dưỡng để chúng phát triển. - Xâm lấn mô và di căn: Tế bào ung thư có thể tách khỏi vị trí hoặc cơ quan ban đầu để xâm lấn các mô xung quanh và lan rộng (di căn) đến các bộ phận xa của cơ thể. Đây là yếu tố quyết định khối u lành tính hay ác tính, và là đặc tính cho phép chúng phát tán khắp cơ thể. Các tế bào ung thư phải trải qua vô số thay đổi để có được khả năng di căn, bắt đầu bằng sự xâm lấn cục bộ vào các mô xung quanh, sau đó xâm lấn các mạch máu, tồn tại trong môi trường khắc nghiệt của hệ tuần hoàn, thoát khỏi hệ thống này và bắt đầu phân chia trong mô mới. - Sự bất ổn của hệ gen (đặc điểm hỗ trợ): Các đặc điểm trên có được thông qua những thay đổi trong bộ gen của tế bào ung thư. Hiện nay người ta đã biết trong các tế bào ung thư có sự kích hoạt các gen gây ung thư (oncogene) và ức chế các gen kiềm chế khối u (tumor suppresor gene). Hiểu một cách đơn giản, một số kiểu gen đột biến mang lại lợi thế chọn lọc cho một số nhóm tế bào, và ung thư tiến triển trải qua nhiều bước là kết quả của một chuỗi những sự thích nghi được kích hoạt bởi sự tích lũy ngẫu nhiên các kiểu gen đột biến. Mô tả đầu tiên về những dấu hiệu đặc trưng của ung thư theo Hanahan và Weinberg năm 2000 3. Thế hệ tiếp theo về những dấu hiệu đặc trưng của ung thư (2011) - Thay đổi sự trao đổi chất của tế bào: Các tế bào bình thường sử dụng oxy để chuyển hóa glucose tạo ra năng lượng, còn các tế bào ác tính có xu hướng chuyển sang quá trình đường phân hiếu khí (được gọi là hiệu ứng Warburg), mặc dù hiệu quả tạo năng lượng thấp hơn nhưng nhanh hơn và tạo ra một số chất trung gian hỗ trợ quá trình tăng sinh nhanh chóng của tế bào ung thư. Ngoài ra, các tế bào ung thư có thể sử dụng lactate làm nguồn năng lượng chính của chúng. - Trốn tránh hệ thống miễn dịch: Các tế bào ung thư sử dụng nhiều chiến lược khác nhau cho phép chúng trốn tránh hệ thống miễn dịch của cơ thể. Một trong những cơ chế phổ biến nhất là biểu hiện protein PD-L1 và ức chế biểu hiện MHC I trên bề mặt khiến tế bào T không nhận diện được. - Phản ứng viêm thúc đẩy hình thành khối u (đặc điểm hỗ trợ): Viêm là phản ứng bảo vệ bình thường của cơ thể đối với những tác nhân gây bệnh hoặc tổn thương. Tuy nhiên, các bằng chứng đã cho thấy tác dụng ngược lại ở trong các khối u, phản ứng viêm là yếu tố tăng cường cho quá trình hình thành và tiến triển của khối u, có khả năng thúc đẩy sự phát triển của khối u mới phát triển thành ung thư hoàn chỉnh. Các tế bào viêm có thể giải phóng các chất hóa học có khả năng gây đột biến đối với các tế bào ung thư gần đó, đẩy nhanh quá trình chọn lọc di truyền của chúng theo hướng ác tính hóa cao hơn. Cập nhật về những dấu hiệu đặc trưng của ung thư theo Hanahan và Weinberg năm 2011 4. Những chiều hướng mới (2022) - Mở khóa tính mềm dẻo về kiểu hình: Các tế bào bình thường khi biệt hóa sẽ ngừng tăng sinh vĩnh viễn và chỉ thực hiện chức năng, ngược lại các tế bào ác tính tránh được sự biệt hóa và mở khóa cái được gọi là tính mềm dẻo kiểu hình để tiếp tục phát triển. Có nhiều cách để chúng làm điều này, ví dụ các tế bào đang tiến tới biệt hóa hoàn toàn sẽ giải biệt hóa để trở lại giống tế bào tiền thân, các tế bào ung thư có nguồn gốc từ tế bào chưa biệt hóa sẽ dừng quá trình biệt hóa, hoặc các tế bào đã được định hướng biệt hóa theo kiểu nhất định có thể chuyển chương trình (hoặc biệt hóa chéo) để hình thành những đặc điểm không liên quan đến định hướng biệt hóa ban đầu của chúng. - Các tế bào lão hóa: Lão hóa tế bào là một dạng ngừng tăng sinh thường không thể đảo ngược, bổ sung cho quá trình chết tế bào theo chương trình để vô hiệu hóa và loại bỏ kịp thời các tế bào bệnh, rối loạn chức năng hoặc không cần thiết. Tuy nhiên những bằng chứng hiện nay cho thấy các tế bào lão hóa là một thành phần quan trọng của vi môi trường khối u, trong một số bối cảnh nhất định chúng có thể kích thích sự phát triển của khối u và tiến triển ác tính. - Tái lập trình di truyền ngoại gen không đột biến (đặc điểm hỗ trợ): Di truyền ngoại gen (epigenetic) là thuật ngữ để chỉ những thay đổi về mặt di truyền trong kiểu hình tế bào nhưng không thay đổi về số lượng bản sao cũng như trình tự trong chuỗi DNA, bao gồm các cơ chế methyl hóa cytosine trên DNA, methyl hóa/acetyl hóa/phosphoryl hóa histone, hay RNA không mã hóa. Những cơ chế đó có thể điều hòa các gen để thay đổi biểu hiện gen, kích hoạt các gen chỉ hoạt động trong giai đoạn phôi sớm giúp tế bào liên tục phân chia, thay đổi vi môi trường khối u,… từ đó thúc đẩy sự phát triển của khối u. - Sự đa hình hệ vi sinh vật (đặc điểm hỗ trợ): Cơ thể chúng ta bị xâm chiếm bởi một lượng lớn các vi sinh vật (gần 40 nghìn tỷ tế bào) sống trong các cơ quan của cơ thể, gọi là microbiome, chúng đóng góp quan trọng đối với sức khỏe con người. Nhiều loài vi sinh vật trong số này gây nên những tác dụng chống lại hoặc thúc đẩy bệnh ung thư, cũng như phản ứng của cơ thể đối với các liệu pháp điều trị. Những bổ sung về những dấu hiệu đặc trưng của ung thư theo Hanahan năm 2022 5. Những thông tin trái chiều - Ngay sau phiên bản đầu tiên, Lazebnik đã có bài viết trên Nature Reviews Cancer năm 2010 chỉ ra rằng 5 trong số đó cũng là đặc điểm của khối u lành tính, chỉ có khả năng xâm lấn và di căn là đặc trưng cho các tế bào ác tính - Năm 2013, Sonnenschein và Soto cho rằng dữ liệu gốc cho hầu hết các dấu hiệu này còn thiếu, đồng thời chỉ ra ung thư là một căn bệnh ở cấp độ mô và các dấu hiệu ở cấp độ tế bào này gây nên những hiểu lầm về bản chất của ung thư. - Năm 2017, Fouad và Aanei cho rằng các dấu hiệu này có sự trùng lặp (tự cung cấp tín hiệu tăng trưởng và không nhạy cảm với tín hiệu ức chế tăng trưởng), hoặc chưa chính xác (apoptosis có xảy ra ở tế bào ung thư), các dấu hiệu đều được mổ xẻ kỹ và chỉ ra một số điểm bất hợp lý. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Hanahan D., and Weinberg, R.A. (2000). The hallmarks of cancer. Cell, 100(1), 57-70. 2. Hanahan D., and Weinberg, R.A. (2011). Hallmarks of cancer: the next generation. Cell, 144(5), 646-674. 3. Hanahan D. (2022). Hallmarks of cancer: new dimensions. Cancer discovery, 12(1), 31-46. 4. Lazebnik Y. (2010). What are the hallmarks of cancer?. Nature Reviews Cancer, 10(4), 232-233. 5. Sonnenschein C., and Soto A.M. (2013). The aging of the 2000 and 2011 Hallmarks of Cancer reviews: a critique. Journal of biosciences, 38, 651-663. 6. Fouad Y. A., and Aanei C. (2017). Revisiting the hallmarks of cancer. American journal of cancer research, 7(5), 1016.
22/01/2026
Tìm hiểu cách thức tế bào gốc khỏe mạnh tiến triển thành tế bào ung thư trên mô hình bệnh ung thư khoang miệng dương tính HPV
Ung thư khoang miệng (oral cancer) là loại ung thư tiến triển trong các mô ở vùng miệng như: môi, má, lợi, lưỡi, vòm miệng cứng hay mềm, sàn miệng, xoang và họng, trong đó lưỡi và môi là 2 cơ quan phổ biến nhất. Ung thư bắt nguồn từ các tế bào biểu mô, là lớp tế bào trên cùng lót khoang miệng. Khoảng 30% các trường hợp ung thư miệng là do virus u nhú ở người (Human Papilloma Virus – HPV) gây ra.
22/01/2026