“Bệnh nhân Oslo” – trường hợp tiếp theo được chữa khỏi HIV nhờ ghép tế bào gốc
Hội chứng nhiễm virus suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (human immunodeficiency virus infection / acquired immunodeficiency syndrome – HIV/AIDS) là hội chứng làm suy yếu hệ thống miễn dịch, khiến bệnh nhân dễ mắc các loại bệnh nhiễm trùng cơ hội hoặc khối u khác thường. Bệnh nhân HIV/AIDS là nguồn truyền nhiễm duy nhất của HIV, với các con đường lây truyền chính qua quan hệ tình dục không an toàn, qua truyền máu hoặc dùng chung bơm kim tiêm với người bệnh, từ mẹ sang con. Hiện tại, chưa có vaccine phòng bệnh và chưa có phương pháp điều trị loại bỏ hoàn toàn virus ra khỏi cơ thể, tuy nhiên các liệu pháp kháng virus có thể làm chậm sự nhân lên của HIV trong cơ thể, cải thiện chất lượng cuộc sống và kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân.
Trong khoảng 20 năm qua, đã có khoảng 10 trường hợp được đẩy lùi HIV nhờ ghép tế bào gốc. Trường hợp đầu tiên là “bệnh nhân Berlin” (có thể gọi là “bệnh nhân Berlin thứ nhất” vì năm 2025 ghi nhận trường hợp bệnh nhân Berlin thứ hai), được phát hiện HIV năm 1995, ghép tế bào gốc tạo máu năm 2007 và đẩy lùi tình trạng bệnh, đến năm 2020 thì tử vong vì bệnh bạch cầu. Sau đó, nhiều trường hợp được ghi nhận thêm như “bệnh nhân London”, “bệnh nhân Geneva”, “bệnh nhân New York”, “bệnh nhân Berlin thứ hai”,… các trường hợp này đều có đặc điểm chung là mắc bệnh lý ác tính về máu, và cần ghép tế bào gốc tạo máu để điều trị và nhờ đó đẩy lùi tình trạng nhiễm HIV. Trong quá trình lựa chọn người hiến phù hợp, các bác sĩ cố gắng tìm kiếm các trường hợp mang đột biến đồng hợp tử ở gen CCR5 (đột biến Δ32, rất hiếm gặp) khiến loại bỏ thụ thể CCR5 trên tế bào, đây là đích lây nhiễm chủ yếu của HIV nên những trường hợp này được coi là “miễn dịch tự nhiên” với virus này.
(a) Bệnh nhân có chủng HIV phụ thuộc vào protein CCR5 (cùng với CD4) để bám vào các tế bào miễn dịch trong quá trình lây nhiễm virus. (b) Trong quá trình điều trị ung thư máu, bệnh nhân được diệt tủy dẫn đến suy kiệt tế bào miễn dịch, đồng thời được ghép tế bào gốc từ người hiến đột biến không có CCR5, nên hệ miễn dịch mới của họ chủ yếu là những tế bào từ người hiến. (c) HIV thuyên giảm có thể do các tế bào miễn dịch mới không có CCR5 dẫn đến virus không thể lây nhiễm.
Nguồn: Henrich, T. J. (2019). Second example reported of a stem-cell transplant in the clinic leading to HIV remission. https://doi.org/10.1038/d41586-019-00989-y
Ngày 13/03/2026, tạp chí Nature Microbiology công bố kết quả điều trị thành công cho một bệnh nhân tại Bệnh viện Đại học Oslo (Na Uy). Bệnh nhân nam 63 tuổi, được chẩn đoán nhiễm HIV vào năm 2006 (44 tuổi), đến năm 2010 ông bắt đầu được điều trị bằng liệu pháp kháng retrovirus (Antiretroviral therapy – ART) để ức chế khả năng nhân lên của virus trong cơ thể. Việc điều trị đã làm giảm lượng HIV trong máu bệnh nhân xuống mức không thể phát hiện. Tuy nhiên, năm 2017, bệnh nhân có triệu chứng mệt mỏi và số lượng tế bào máu giảm mạnh, đến tháng 1 năm 2018 thì được chẩn đoán hội chứng loạn sản tủy (myelodysplastic syndrome – MDS), một loại ung thư tủy xương làm các tế bào máu mới được tạo ra trong tủy xương không thể trưởng thành để thực hiện chức năng. Sau 2 năm điều trị, bệnh nhân dần không đáp ứng và tái phát, buộc các bác sĩ phải tìm cách ghép tủy xương (còn gọi là ghép tế bào gốc tạo máu, dùng các tế bào gốc khỏe mạnh từ người hiến vào cơ thể người bệnh để thay thế hệ thống tạo máu).
Trong quá trình lựa chọn người hiến phù hợp, các bác sĩ cố gắng tìm kiếm người hiến có đột biến CCR5Δ32 đồng hợp tử với hy vọng có thể đồng thời đẩy lùi tình trạng HIV. Tiếc rằng họ đã không tìm được trường hợp nào như vậy, nên người anh trai của bệnh nhân đã được lựa chọn hiến tủy xương để ít nhất là điều trị ung thư. Tuy nhiên, điều kỳ diệu đã xảy ra: vào đúng ngày tiến hành thủ thuật (tháng 11/2020), người ta bất ngờ xác nhận rằng anh trai của bệnh nhân mang đột biến CCR5Δ32 đồng hợp tử.
Sau ca ghép tủy, người đàn ông này gặp bệnh thải ghép, một biến chứng gây ra do các tế bào gốc được cấy ghép sinh ra các tế bào miễn dịch mới, chúng coi cơ thể người nhận là tác nhân lạ và tấn công các mô. Bệnh nhân được điều trị bằng thuốc điều hòa miễn dịch, và sau một thời gian, hệ thống miễn dịch mới đã hoạt động hiệu quả. Sau 2 năm, các tế bào mới mang đột biến gen đã hoàn toàn thay thế các tế bào miễn dịch ban đầu, các bác sĩ quyết định cho ông dừng dùng thuốc kháng virus. Sau 4 năm kể từ khi ghép tế bào gốc, tình trạng nhiễm HIV rất có thể cũng đã được chữa khỏi. Bệnh nhân được theo dõi và không phát hiện DNA HIV trong mô bạch huyết hoặc mẫu sinh thiết ruột (vốn là ổ chứa virus chính), các dấu hiệu khác về sự hiện diện của HIV trong cơ thể đều không có. Nhóm nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng các tế bào miễn dịch của bệnh nhân phản ứng tốt với các virus thông thường, như virus gây bệnh bạch cầu đơn nhân và virus cúm, nhưng không phản ứng với HIV – có vẻ như hệ thống miễn dịch mới của anh ấy chưa từng tiếp xúc với HIV và không nhận ra nó. Các trường hợp điều trị thành công HIV thường giấu tên và được xác định bằng nơi họ sinh sống vào thời điểm điều trị, vì vậy trường hợp này được gọi là “bệnh nhân Oslo”.
Đường màu tím: số bản sao RNA của virus HIV trong máu bệnh nhân. Đường màu xanh: “hiện tượng ghép tế bào”, tức là tỷ lệ tế bào máu và tế bào miễn dịch được thay thế bởi các tế bào được hiến tặng
Trường hợp “bệnh nhân Oslo” đóng góp những bằng chứng quý giá vào cơ sở kiến thức hiện có về các trường hợp chữa khỏi HIV (các nhà khoa học thường thận trọng hơn và dùng thuật ngữ “thuyên giảm kéo dài với HIV”). Đây là trường hợp đặc biệt, khi tỷ lệ anh chị em ruột có khả năng tương thích tủy xương chỉ khoảng 25%. Đồng thời, tần số xuất hiện đột biến gen CCR5 dạng đồng hợp Δ32/Δ32 (cả 2 bản sao của gen đều đột biến) chỉ khoảng 1% ở người Bắc Âu. Trường hợp này thực sự hiếm gặp, và nhóm nghiên cứu không biết về tình trạng CCR5 của người hiến trước khi quyết định ghép tủy, trở thành trường hợp đầu tiên được ghi nhận chữa khỏi HIV bằng tế bào gốc mà người hiến là người thân trong gia đình. Các tác giả cũng cho rằng những xét nghiệm họ thực hiện trong nghiên cứu này có thể là những tiêu chuẩn hữu ích cho các ca ghép trong tương lai, giúp đánh giá khi nào bệnh nhân đạt được tình trạng thuyên giảm lâu dài. Nghiên cứu trên những bệnh nhân này có thể giúp khám phá ra những chiến lược mới và hiệu quả hơn để kiểm soát virus.
Mặc dù có những thành công như vậy, nhưng phải khẳng định rằng ghép tế bào gốc không phải là phương pháp khả thi điều trị HIV thường quy. Việc ghép tủy là thủ thuật vô cùng rủi ro, thậm chí gây tử vong, nó chỉ được dùng như phương pháp điều trị cuối cùng cho các bệnh nhân ung thư máu không còn giải pháp khác. Số người nhiễm HIV trên toàn thế giới lên đến hơn 30 triệu, nên việc ghép tế bào gốc cho toàn bộ số bệnh nhân này là bất khả thi. Chúng ta vẫn cần tìm ra những chiến lược khác để kiểm soát tình trạng HIV.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Myhre A. E., et al. (2026). Long-term HIV-1 remission achieved through allogeneic haematopoietic stem cell transplant from a CCR5 Δ32/Δ32 sibling donor. Nature Microbiology, 1-13. https://doi.org/10.1038/s41564-026-02304-8