TẾ BÀO HỌC
Rã đông tế bào sau quá trình bảo quản đông lạnh
(Những sản phẩm thương mại như thiết bị, dụng cụ, hóa chất sinh phẩm xuất hiện trong bài viết mang tính chất tham khảo và chia sẻ kinh nghiệm thực tế, không nhằm mục đích quảng cáo) --------- Quy trình rã đông tế bào (Hình 1): - Lấy tế bào từ hệ thống lưu trữ (hệ thống nitơ -196*C hoặc tủ lạnh âm sâu -80*C), nhanh chóng rã đông mẫu. Trường hợp thời gian chờ rã đông lâu, cần bảo quản mẫu trong thiết bị vận chuyển sử dụng nitơ (-196*C) hoặc đá khô (-80*C) để mẫu tránh bị gia nhiệt tự nhiên. - Đặt mẫu vào bể ổn nhiệt 37*C (nắp ống cao hơn mực nước để tránh nhiễm khuẩn), lắc đều để băng nhanh tan (thời gian <1 phút) cho đến khi chỉ còn một mẩu đá nhỏ đang tan trong dung dịch (nhiệt độ mẫu ~0*C) - Nhanh chóng chuyển mẫu sang ống ly tâm chứa sẵn môi trường nuôi cấy đã làm ấm (nhiệt độ phòng hoặc 37*C), thể tích môi trường sử dụng gấp khoảng 10 lần so với thể tích mẫu đông lạnh - Ly tâm thu tế bào và thực hiện các thí nghiệm tiếp theo Hình 1. Các bước cơ bản của quá trình rã đông tế bào --------- Một số lưu ý để thực hiện tốt quá trình rã đông tế bào (Hình 2) - Quá trình rã đông cần thực hiện nhanh để tế bào tránh bị ảnh hưởng bởi các tinh thể băng trong lúc băng tan. Cần rã đông ở nhiệt độ 37*C thay vì nhiệt độ phòng hay nhiệt độ lạnh. - Ngay khi mẫu tan băng, cần nhanh chóng chuyển tế bào vào môi trường nuôi cấy để pha loãng dung dịch bảo quản, do DMSO là chất độc với tế bào ở nhiệt độ phòng. Nên sử dụng môi trường nuôi cấy để tế bào quen với môi trường trong quá trình nuôi cấy sau này, tránh tiếp xúc với nhiều dung môi khác nhau ảnh hưởng đến áp suất thẩm thấu - Tế bào sau rã đông khá yếu và nhạy cảm, hạn chế tác động mạnh đến tế bào: hạn chế pipeting, tránh hút tế bào bằng micropipet (lực hút mạnh) mà nên sử dụng pipet Pasteur, ly tâm tốc độ thấp,… Hình 2. Một số lưu ý để thực hiện tốt quá trình rã đông tế bào --------- Nhìn chung quá trình lưu trữ và rã đông tế bào để đạt hiệu quả tốt cần sự kết hợp của nhiều yếu tố: - Thao tác thực hiện hạ lạnh và rã đông, đặc biệt chú ý những lưu ý thực hành tốt - Hạ lạnh chậm 1*C/phút thường được áp dụng, với sự hỗ trợ của thiết bị hạ lạnh (VD: CryoMed™ Controlled-Rate Freezer của ThermoFisher Scientific), hoặc dụng cụ hạ lạnh mini (VD: Cell Freezing Container của Corning hoặc Biocision/ azenta) - Khả năng bảo vệ tế bào của môi trường bảo quản đông lạnh, VD: thực nghiệm cho thấy môi trường thương mại CryoStor CS10 (StemCell Technologies) có khả năng duy trì tỷ lệ tế bào sống hàng giờ ở nhiệt độ phòng, môi trường đông lạnh chứa hàm lượng huyết thanh càng cao giúp tỷ lệ tế bào chết càng thấp - Hệ thống lưu trữ được duy trì ổn định, không có sự biến động lớn về nhiệt độ --------- Hình 3. So sánh tỷ lệ tế bào sống của một mẫu tế bào gốc trung mô (tách từ wharton's jelly dây rốn, nuôi cấy trong môi trường StemMACS™ Expansion Media Kit XF – Miltenyi) ở các thời điểm: (a) trước lưu trữ: trước khi tiếp xúc môi trường bảo quản và hạ lạnh; (b) sau khi rã đông: bảo quản trong môi trường CryoStor® CS10 (StemCell Technologies), hạ lạnh bằng Coolcell® Container (Corning), lưu trữ trong tủ lạnh âm sâu -80*C trong 2 tháng và rã đông. Kết quả được đo bằng hệ thống Countess™ 3 Automated Cell Counter (ThermoFisher Scientific). Một số tiêu chí đánh giá chất lượng tế bào sau lưu trữ và rã đông: - Tỷ lệ tế bào sống - Khả năng duy trì đặc tính tế bào như tốc độ sinh trưởng, khả năng biệt hóa (với tế bào gốc), sự biểu hiện các marker bề mặt, các cytokine,… - Độ ổn định di truyền
23/01/2026
Bảo quản đông lạnh tế bào
1. Vai trò của bảo quản lạnh tế bào - Tạo nguồn dự trữ khi cần - Gián đoạn tạm thời quá trình sinh trưởng của tế bào, giúp tiết kiệm chi phí nuôi cấy tế bào khi chưa có nhu cầu cần thiết phải nuôi cấy - Bảo tồn các dòng tế bào với tuổi thọ hữu hạn hoặc hạn chế biến đổi trong quá trình nuôi cấy - Lưu trữ một loại tế bào ở một giai đoạn nhất định để đảm bảo tính đồng nhất trong nghiên cứu/thử nghiệm Hình 1. Các bước tiến hành thu hoạch và lưu trữ tế bào nuôi cấy bám dính 2. Các sự kiện chính trong quá trình hạ lạnh tế bào Trong quá trình đông lạnh, các tinh thể đá hình thành cả bên trong và bên ngoài tế bào, phần ngoại bào đông lạnh trước làm tăng nồng độ các chất điện giải bên trong tế bào, làm thay đổi áp suất thẩm thấu, gây mất nước của tế bào. Quá trình này có thể làm giảm sức sống của tế bào. Các sự kiện chính trong quá trình hạ lạnh tế bào được thể hiện trong Hình 2. Hình 2. Các sự kiện chính diễn ra trong quá trình hạ lạnh tế bào 3. Môi trường bảo quản lạnh tế bào - Thường chứa DMSO, hoặc glycerol, propylene glycol, trehalose,... (khoảng 10% v/v) để làm hạ thấp điểm đóng băng và ổn định áp suất thẩm thấu của tế bào trong quá trình hạ lạnh - Chứa huyết thanh (nếu môi trường nuôi cấy có huyết thanh), hoặc cell culture–grade BSA, hay albumin huyết thanh (nồng độ càng cao càng giúp giảm tỷ lệ tế bào chết trong quá trình bảo quản) Một số môi trường đông lạnh thương mại được sử dụng phổ biến như CryoStor CS10 Cell Freezing Medium (Stemcell Technologies), Recovery Cell Culture Freezing Medium và Synth-a-Freeze Cryopreservation Medium (ThermoFisher Scientific), NutriFreez® D10 Cryopreservation Medium (Sartorius),… - Một số nhóm nghiên cứu đang phát triển các vật liệu polymer để đông lạnh tế bào được cho là có độ phù hợp cao hơn với tế bào nuôi cấy 3D 4. Phương pháp hạ lạnh - Hạ lạnh chậm: thường sử dụng nhất, tốc độ hạ lạnh 1*C/phút. Thiết bị hỗ trợ có thể sử dụng như hệ thống hạ lạnh theo chương trình (VD: CryoMed™ Controlled-Rate Freezer của ThermoFisher Scientific), hoặc dụng cụ hạ lạnh mini (VD: Cell Freezing Container của Corning hoặc Biocision/ azenta) với chất liệu xốp đặc biệt hoặc sử dụng isopropanol. Thường tế bào bắt đầu hạ lạnh đều đặn 1*C/phút từ 4*C đến -80*C trước khi cho vào hệ thống lưu trữ. - Hạ lạnh nhanh: tốc độ hạ lạnh có thể lên đến 120*C/phút - Thủy tinh hóa: chuyển thẳng mẫu vào nitơ lỏng (-196*C), tạo nên các tinh thể như sợi thủy tinh Hình 3. Sự thay đổi nhiệt độ của một mẫu hạ lạnh bằng hệ thống tự động CryoMed™ Controlled-Rate Freezer (ThermoFisher Scientific). Trục tung: nhiệt độ (oC), trục hoành: thời gian (phút). Đường màu xanh: nhiệt độ buồng chứa mẫu, đường màu đỏ: nhiệt độ mẫu. 5. Một số lưu ý khi bảo quản đông lạnh tế bào - Nên bảo quản tế bào khi chúng đang ở pha sinh trưởng (pha log), có sức sống tốt nhất - Môi trường bảo quản nên được pha vào ngày bảo quản, trước khi bảo quản tế bào ít nhất 30 phút (để kịp làm lạnh), hoặc có thể sử dụng môi trường thương mại. Nên làm lạnh đến 2-8*C trước khi sử dụng. - Nồng độ tế bào bảo quản dao động từ 0,5-10 triệu tế bào/mL tùy từng loại tế bào, - Thể tích dung dịch bảo quản thường khuyến cáo bằng khoảng 1/2 thể tích tối đa của ống lưu trữ (VD: 1 mL dung dịch cho ống 2 mL, 2-3 mL dung dịch cho ống 5 mL) - Trường hợp không có thiết bị/dụng cụ hạ lạnh có thể sử dụng các tủ lạnh: chuyển tế bào trong dung dịch bảo quản vào tủ mát 2-8*C trong 15-30 phút (nếu trước đó chưa làm lạnh dung dịch bảo quản), chuyển sang tủ -20*C trong 1-2 giờ, sau đó chuyển sang tủ -80*C trong tối thiểu 4 giờ - Có thể lưu trữ tế bào ngắn hạn trong điều kiện -80*C (dưới 6 tháng, hoặc tối đa 12 tháng), nếu lưu trữ lâu dài cần bảo quản trong nitơ lỏng (-196*C). Bảo quản tế bào lâu dài ở điều kiện -80*C làm tế bào giảm sức sống và có thể diễn ra những biến đổi không mong muốn. TÀI LIỆU THAM KHẢO - Jang T. H., et al. (2017). Cryopreservation and its clinical applications. Integrative medicine research, 6(1), 12-18. - Deliorman M., et al. (2020). A Method to Efficiently Cryopreserve Mammalian Cells on Paper Platforms. Bio-protocol, 10(18), e3764-e3764. - ThermoFisher Scientific, Cryopreservation of Mammalian Cells (https://www.thermofisher.com/vn/en/home/references/gibco-cell-culture-basics/cell-culture-protocols/freezing-cells.html)
22/01/2026
Thành phần môi trường nuôi cấy: kháng sinh và kháng nấm – bạn hay thù?
Theo quan điểm hiện nay, không nên sử dụng kháng sinh trong nuôi cấy tế bào vì những tác động xấu của nó làm thay đổi đặc tính của tế bào. Các công cụ hiện đại như cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguyên tắc thực hành và kỹ thuật vô trùng khiến những hợp chất này trở nên không cần thiết.
22/01/2026
Thành phần môi trường nuôi cấy tế bào: muối bicarbonate
- Môi trường nuôi cấy tế bào phải chứa hệ thống đệm để duy trì độ pH ổn định (thường nằm trong khoảng từ 7,2 đến 7,4 đối với nhiều đa số các loại tế bào động vật). Hệ đệm gồm CO2 (kèm độ ẩm) và muối bicarbonate được sử dụng phổ biến nhất trong nuôi cấy tế bào H2O + CO2 H+ + HCO3¯ - Thông thường, nồng độ bicarbonate được sử dụng phổ biến là 26 mM. Khi đó, với tỷ lệ CO2 ở mức 4,5% – 6,5% so với thể tích không khí cung cấp cho tủ nuôi cấy thì độ pH được duy trì trong khoảng 7,2 – 7,4 là giá trị tối ưu cho đa số các loại tế bào động vật sinh trưởng (vùng giữa đường kẻ ngang màu đỏ và đường kẻ ngang màu xanh lá trên hình ảnh minh họa). Các tủ nuôi cấy thường điều chỉnh CO2 ở mức 5% thể tích không khí. - Riêng DMEM có nồng độ bicarbonate là 44 mM, khi đó để duy trì pH 7,2 – 7,4 thì tỷ lệ CO2 thích hợp là 7,5% – 11% trong không khí. Với CO2 ở mức 5%, pH của DMEM là 7,5, là giá trị chấp nhận được nhưng thực tế nằm ngoài phạm vi pH tối ưu (hình minh họa). --------- Ngoài ra, HEPES (4-(2-Hydroxyethyl)piperazine-1-ethanesulfonic acid) là một loại đệm cũng được sử dụng khá nhiều trong nuôi cấy tế bào. HEPES là đệm hữu cơ lưỡng tính, mạnh hơn bicarbonate, duy trì pH trong khoảng 6,8 – 8,2, tuy nhiên có thể gây độc đối với một số loại tế bào ở nồng độ nhất định tùy loại tế bào. Khi sử dụng đệm HEPES thì không cần cung cấp CO2 cho tủ nuôi cấy.
22/01/2026
Thành phần môi trường nuôi cấy tế bào: Đỏ phenol
Đỏ phenol (phenol red, hay phenolsulfonphthalein) được sử dụng rộng rãi trong môi trường nuôi cấy tế bào như một chất chỉ thị pH
22/01/2026
Thành phần môi trường nuôi cấy tế bào: Huyết thanh
Huyết thanh được thêm vào môi trường nuôi cấy đa số các loại tế bào động vật với nồng độ 2-10% theo thể tích để cung cấp hỗn hợp các chất dinh dưỡng, yếu tố tăng trưởng, yếu tố vi lượng,... cho tế bào. Loại huyết thanh thường được sử dụng nhất là huyết thanh thai bò (fetal bovine serum - FBS), chứa hơn 1.000 thành phần như yếu tố tăng trưởng, hormone, protein khác, lipid, khoáng chất, đệm pH,…
22/01/2026
Môi trường nuôi cấy tế bào – Môi trường cơ bản
Tế bào cần được nuôi dưỡng trong môi trường mô phỏng càng giống cơ thể càng tốt, cung cấp cho chúng những chất dinh dưỡng cần thiết, các yếu tố tăng trưởng, hormone,… để phát triển.
22/01/2026
Một ví dụ cho thấy sự khác biệt rõ ràng khi sử dụng mô hình 2D và 3D trong thử nghiệm
Trong mô hình 2D, các tế bào phát triển trên bề mặt phẳng, không mô phỏng được cấu trúc mô in vivo như mô hình 3D, do đó kém hơn trong việc phản ánh sự tương tác tế bào - tế bào và tế bào - môi trường.
22/01/2026
Tuổi thọ của tế bào trong nuôi cấy
- Một thực tế rất rõ ràng là khi nuôi cấy tế bào bám dính, chúng ta sẽ không xác định những tế bào đó đã sống bao nhiêu ngày, bao nhiêu tháng,... (việc này thường chỉ thực hiện khi nuôi tế bào miễn dịch, các loại tế bào đã biệt hóa,...). - Khi nói đến tuổi tế bào, người ta thường nhắc đến số lần cấy chuyển (subculture hay passage), trước đây người ta thường cấy chuyển theo tỷ lệ 1:2 (từ 1 diện tích ban đầu mở rộng diện tích ra gấp 2 lần, ví dụ 1 chai T75 thành 2 chai T75) nên có tính đồng nhất cao giữa các nhóm nghiên cứu hay các phòng thí nghiệm. - Tuy nhiên hiện tại, với sự hỗ trợ của các loại môi trường thương mại và giá thể nuôi cấy trên thị trường, tỷ lệ cấy chuyển có sự khác nhau lớn và rất xa con số 1:2. Ví dụ cùng cấy tế bào gốc trung mô (MSC) với mật độ 4.000 tế bào/cm2 trên chai T75 (cấy 0,3 triệu tế bào/chai), nếu thu được 3,0 triệu tế bào thì thế hệ tiếp tiếp theo cấy chuyển tỷ lệ 1:10, nếu thu được 4,5 triệu tế bào thì thế hệ tiếp tiếp theo cấy chuyển tỷ lệ 1:15. Vì thế số lần cấy chuyển không phản ánh đúng "tuổi" của tế bào, do tỷ lệ cấy chuyển càng cao thì tế bào càng nhanh tiến đến giới hạn Hayflick. - Công cụ tính toán hợp lý nhất được đề xuất hiện nay là số lần nhân đôi quần thể, tính tương quan dựa theo số tế bào thu được và số tế bào gieo ban đầu của cùng một lần cấy chuyển (công thức trên hình minh họa). Số lần nhân đôi quần thể có liên quan đến thời gian nhân đôi quần thể (doubling time) được dùng khá phổ biến để đánh giá tốc độ sinh trưởng của tế bào. Lưu ý: các công thức được tính gần đúng, bỏ qua các tế bào chết trong quá trình nuôi cấy. - Tương quan giữa số lần cấy chuyển và số lần nhân đôi quần thể: Tỷ lệ cấy chuyển khác nhau dẫn đến số lượng tế bào thu ở thế hệ tiếp theo khác nhau, tức là số lần phân bào của tế bào cũng khác nhau. Ví dụ cùng cấy chuyển 6 lần, nếu cấy tỷ lệ 1:10 thì trung bình từ 1 tế bào tạo ra 1 triệu (10^6) tế bào, tương đương với tế bào trải qua khoảng 20 lần nhân đôi (2^20 ~ 1x10^6); nhưng nếu cấy tỷ lệ 1:15 thì trung bình từ 1 tế bào tạo ra 170 triệu (15^6) tế bào, tương đương với tế bào trải qua khoảng 27 lần nhân đôi, tức là đã tiến gần hơn đến giới hạn Hayflick (nhanh già hơn). - Mặc dù số lần nhân đôi quần thể là công cụ có vẻ hợp lý nhất hiện nay, và thời gian nhân đôi quần thể (doubling time) được sử dụng phổ biến, tuy nhiên thực tế là người ta vẫn quá quen thuộc khi dùng số lần cấy chuyển để nói về tuổi của tế bào trong nuôi cấy.
22/01/2026
Xác định số lượng tế bào
Đếm tế bào bằng buồng đếm hồng cầu: - Buồng đếm hồng cầu (hemocytometer hay haemocytometer) ban đầu được thiết kế để đếm tế bào máu, là tấm kính dày có kẻ các vạch phân chia thành các ô kích thước cụ thể và khi đậy lamel thì tạo độ sâu nhất định, từ đó có thể tính toán số lượng tế bào trong một đơn vị thể tích. - Có nhiều loại buồng đếm khác nhau, thường dùng nhất là buồng đếm dạng Neubauer (cấu trúc các ô và cách như mô tả ở Hình 1). - Thường kết hợp với xác định tỷ lệ tế bào sống bằng cách pha cùng Trypan blue 0,4% theo tỷ lệ 1:1 (lúc này lưu ý là mật độ tế bào giảm 2 lần) - Các bước thực hiện: (1) Pha loãng mẫu về nồng độ thích hợp, pha loãng cùng Trypan blue 0,4% để xác định tỷ lệ tế bào sống (nếu cần) (2) Chuyển mẫu vào giữa ô đếm (3) Nhẹ nhàng đậy lamel sao cho tránh bọt khí và huyền phù dàn đầy các ô đếm (4) Đưa lên kính hiển vi, sau 3-5 phút thì đếm tế bào sống (không bắt màu Trypan blue), tế bào chết (bắt màu xanh đen) - Một số lưu ý (trước khi đọc, bạn hãy thử đếm số lượng tế bào trong Hình 1) + Nên pha loãng mẫu sao cho mỗi ô vuông nhỏ có khoảng 5-10 tế bào (trung bình không ít hơn 2,5 tế bào), mỗi ô vuông lớn có khoảng 10-50 tế bào + Với mỗi ô vuông lớn cần đếm các tế bào nằm trọn vẹn trong ô, và các tế bào nằm trên 2 cạnh vuông góc với nhau, ví dụ cạnh trên và cạnh phải (hãy chú ý trong Hình 1: nếu quy ước đếm cạnh trên và cạnh phải thì ô B cần tính 2 tế bào ở cạnh phải và không đếm 1 tế bào cạnh dưới, ô E tính cần tính 1 tế bào ở cạnh trên và không tính 1 tế bào ở cạnh dưới) + Các cụm tế bào chỉ tính là 1 "hạt" (1 event), không đếm máy móc từng tế bào trong cụm (hãy chú ý cụm 3 tế bào ở ô B, chúng ta chỉ tính 1) ---------- Đếm tế bào bằng máy đếm tự động: - Hiện trên thị trường có nhiều dòng máy khác nhau như Countess (ThermoFisher Scientific), Eve (NanoEntek), CellDrop (DeNovix),... - Ưu điểm: thao tác nhanh chóng và tự động, có xuất báo cáo từ thiết bị để lưu trữ hồ sơ - Có nhiều chức năng nâng cao như tự khoanh vùng cụm tế bào, đếm tế bào huỳnh quang,... Ví dụ: Kết quả đếm tế bào trên máy Countess 3 Automated Cell Counter (ThermoFisher Scientific) (Hình 2)
22/01/2026
Cấy chuyển tế bào
Cấy chuyển tế bào (subculturing/passaging the cells) được thực hiện bằng cách chuyển một số hoặc toàn bộ các tế bào từ môi trường nuôi cấy trước đó sang môi trường tăng trưởng mới.
22/01/2026
Tế bào sơ cấp và dòng tế bào
- Nuôi cấy sơ cấp (primary culture) là quá trình nuôi cấy đầu tiên ngay sau khi phân lập tế bào quan tâm từ nguồn mô (dây rốn, mô mỡ, máu ngoại vi,...). Tập hợp tế bào nuôi cấy lúc này thường không đồng nhất với nhiều loại tế bào khác nhau. - Nuôi cấy thứ cấp (secondary culture) là quá trình sau khi nuôi cấy sơ cấp, các tế bào được cấy chuyển (subculture hay passaging) và nuôi cấy trong môi trường mới. Các tế bào đồng nhất hơn và có thời gian tồn tại lâu hơn. - Tế bào sơ cấp (primary cells) là những tế bào được phân lập trực tiếp từ nguồn mô, tương đối nhạy cảm với điều kiện nuôi cấy và có khả năng tăng sinh hữu hạn. - Dòng tế bào (cell lines) là một nhóm các tế bào được hình thành từ quá trình nuôi cấy sơ cấp tạo nên nhóm các tế bào thuần khiết, thường biểu hiện các đặc điểm chức năng gần giống với các tế bào sơ cấp, nhưng kiểu gen và kiểu hình của tế bào có thể bị biến đổi. - Dòng tế bào hữu hạn (finite cell lines) là dòng tế bào mà các tế bào phân chia một số lần giới hạn khi nuôi cấy (thường là 20-100 lần), sau đó ngừng phân chia và đi vào pha suy vong. - Dòng tế bào liên tục (continuous cell lines) hay dòng tế bào bất tử (immortalised cell lines) là dòng tế bào mà các tế bào phân chia vô hạn trong quá trình nuôi cấy. Phương pháp tạo ra các dòng tế bào này có thể là nuôi cấy tế bào với các hóa chất hoặc cho nhiễm virus làm tăng sinh mất kiểm soát. Đa số các dòng tế bào thương mại được tạo ra bằng cách cho nhiễm virus tạo nên bất tử, gọi là dòng tế bào biến đổi (transformed cell lines). - Mô hình sinh trưởng của tế bào: Khi mới được cấy (seeding), ban đầu tế bào cần thích nghi với môi trường nuôi cấy nên số lượng tế bào giảm nhẹ do một số tế bào không thích nghi được bị chết đi (pha tiềm phát). Sau đó, số lượng tế bào tăng dần, tế bào được phân chia liên tiếp và tăng sinh nhanh về số lượng (pha sinh trưởng hay pha lũy thừa), người ta cần liên tục mở rộng không gian sinh trưởng để duy trì tế bào ở pha này, ví dụ cấy chuyển (subculture hay passaging) để mở rộng diện tích bề mặt đối với tế bào bám dính hay tăng thể tích nuôi cấy đối với nuôi cấy huyền phù. Đến một thời điểm nhất định, mặc dù được cung cấp điều kiện lý tưởng nhưng số lượng tế bào không tăng, duy trì cân bằng (pha cân bằng) rồi giảm dần do tế bào không phân chia mà chết dần (pha suy vong). - Trong nhiều thập kỷ, các nhà khoa học thường sử dụng các dòng tế bào để thực hiện các nghiên cứu, thử nghiệm. Tuy nhiên, các tế bào qua quá trình nuôi cấy lâu dài thường bị biến đổi cả về kiểu gen và kiểu hình, nên không còn giữ hoàn toàn những đặc điểm giống như nguồn mô ban đầu. Những tế bào này cũng thường có sức sống mãnh liệt, ít nhạy cảm với điều kiện môi trường, nên khó đánh giá khi thay đổi điều kiện thử nghiệm. - Hiện nay, các nhóm nghiên cứu có xu hướng chuyển dịch về sử dụng tế bào sơ cấp để thử nghiệm. Những tế bào này vẫn giữ được đa số các đặc điểm từ nguồn mô phân lập ra nó, và rất nhạy cảm với sự thay đổi của điều kiện nuôi cấy, nên trở thành công cụ tốt để nghiên cứu thử nghiệm.
22/01/2026