FDA sẽ siết chặt điều kiện cấp phép đối với liệu pháp tế bào CAR-T

Các quan chức cấp cao tại Trung tâm Nghiên cứu và Đánh giá Sinh học (Center for Biologic Research and Evaluation – CBER) thuộc Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (the US Food and Drug Administration – US FDA) cho biết cơ quan này nhìn chung sẽ yêu cầu các thử nghiệm lâm sàng phải phân nhóm ngẫu nhiên có đối chứng (randomized controlled trial) để hỗ trợ việc phê duyệt các liệu pháp CAR-T điều trị ung thư, ngoại trừ một số trường hợp nhất định như các nhóm bệnh nhân hiếm gặp hoặc tái phát nhiều lần hoặc kháng trị.

Hiện tại FDA đã phê duyệt 7 liệu pháp CAR-T cho 18 chỉ định, với 5 sản phẩm điều trị các bệnh bạch cầu và u lympho là KYMRIAH (Tisagenlecleucel), YESCARTA (Axicabtagene ciloleucel), TECARTUS (Brexucabtagene autoleucel), BREYANZI (Lisocabtagene maraleucel), AUCATZYL (Obecabtagene autoleucel); và 2 sản phẩm điều trị đa u tủy xương là ABECMA (Idecabtagene vicleucel), CARVYKTI (Ciltacabtagene autoleucel). Trong số này, nhiều đơn cấp phép sinh học ban đầu chỉ dựa trên các thử nghiệm đơn nhóm, với tỷ lệ đáp ứng (response rate) là điểm cuối chính và được thực hiện trong bối cảnh tái phát kháng trị. Tuy nhiên trong tương lai, các liệu pháp CAR-T được thử nghiệm phân nhóm ngẫu nhiên có đối chứng với điểm cuối là sống sót tổng thể (overall survival) hoặc thời gian xảy ra sự kiện chấp nhận được (acceptable time-to-event) sẽ được ưu tiên. Ngoài ra, một số điểm cuối khác như chất lượng cuộc sống tổng thể, sự trị hoãn liệu pháp tiếp theo có độc tính, sự thuyên giảm bền vững,... có thể xem xét thay thế tỷ lệ sống sót nếu việc theo dõi chỉ số này mất quá nhiều thời gian.

Việc lựa chọn tiêu chí cho nhóm đối chứng trong một thử nghiệm lâm sàng phân nhóm ngẫu nhiên là rất quan trọng, và phải tính đến các phương pháp điều trị tiêu chuẩn hiện có, bao gồm cả liệu pháp CAR-T đã được phê duyệt, các cân nhắc về đạo đức, và quan trọng nhất là khả năng phân biệt được một cách đáng tin cậy về việc kết quả do sản phẩm nghiên cứu hay do các yếu tố khác mang lại, ví dụ như diễn biến tự nhiên của bệnh, kỳ vọng chủ quan của người phân tích hoặc bệnh nhân, hoặc các phương pháp điều trị khác. Các bằng chứng nên chứng minh tính ưu việt của liệu pháp CAR-T đang được thử nghiệm so với nhóm đối chứng. Nếu so sánh với một sản phẩm CAR-T đã phê duyệt, kết quả cần dựa trên tính tương đương hoặc không thua kém, và phải minh chứng đầy đủ kèm theo sự thảo luận với FDA.

Mặc dù vậy, FDA vẫn sẽ xem xét các thử nghiệm đơn nhóm cho các loại ung thư hiếm gặp và ở nhiều nhóm bệnh nhân tái phát kháng trị, trong trường hợp thử nghiệm phân nhóm ngẫu nhiên có đối chứng không khả thi hoặc không phù hợp về mặt đạo đức. Lúc đó, điểm cuối quan sát cũng được lựa chọn phù hợp, ví dụ như các dấu ấn sinh học nhất định (nếu có đủ dữ liệu minh chứng dấu ấn sinh học đó được biết là hợp lệ hoặc có khả năng dự đoán lợi ích lâm sàng một cách hợp lý).

Tiêu chí tỷ lệ đáp ứng cao và bền vững trước đây được sử dụng để phê duyệt theo cách truyền thống cho các liệu pháp CAR-T, tuy nhiên sau này sẽ chỉ được áp dụng cho phê duyệt nhanh. Một sản phẩm CAR-T chỉ có thể xin phê duyệt nhanh nếu được sử dụng cho các bệnh ung thư nghiêm trọng, đe dọa tính mạng, hoặc giải quyết một nhu cầu cấp thiết chưa được đáp ứng (ví dụ cải thiện một triệu chứng nghiêm trọng của bệnh, hoặc cải thiện độ an toàn). Quy trình phê duyệt nhanh giúp đưa các sản phẩm mới đến tay bệnh nhân nhanh chóng hơn, nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro và thiếu chắc chắc cho đến khi lợi ích lâm sàng được xác nhân. Nếu phê duyệt nhanh được cấp dựa trên kết quả một thử nghiệm lâm sàng không ngẫu nhiên, FDA kỳ vọng các nhà tài trợ sẽ tiến hành thêm thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng để xác nhận lợi ích lâm sàng.

 

NGUỒN

https://www.raps.org/news-and-articles/news-articles/2025/12/fda-to-tighten-approval-requirements-for-car-t-cel