UNG THƯ VÀ HUYẾT HỌC
Liệu pháp CAR với các tế bào thuộc hệ miễn dịch bẩm sinh (P3)
Phần 3. Liệu pháp CAR-M – giải pháp đến từ các đại thực bào
26/02/2026
Liệu pháp CAR với các tế bào thuộc hệ miễn dịch bẩm sinh (P2)
Phần 2. Liệu pháp CAR-NK – hiện trạng, thách thức và triển vọng tương lai
15/02/2026
Liệu pháp CAR với các tế bào thuộc hệ miễn dịch bẩm sinh (P1)
Phần 1 - Các tế bào miễn dịch bẩm sinh và lợi thế trong điều trị ung thư u đặc
12/02/2026
Liệu pháp tế bào T tự thân nhắm đích nhiều kháng nguyên cho thấy triển vọng trong điều trị ung thư tuyến tụy
Một bài báo gần đây trên tạp chí Nature Medicine về thử nghiệm lâm sàng giai đoạn I/II có tên TACTOPS, nghiên cứu về tính an toàn và hiệu quả lâm sàng của liệu pháp tế bào T tự thân nhắm vào nhiều kháng nguyên liên quan đến khối u (Tumor-Associated Antigen, TAA) của ung thư tuyến tụy, đã cho thấy kết quả đầy hứa hẹn.
25/01/2026
Vai trò của tương tác giữa đại thực bào liên quan đến khối u và nguyên bào sợi liên quan đến ung thư trong môi trường vi mô của sarcoma mô mềm
Sarcoma là một loại ung thư hiếm gặp phát triển từ các mô liên kết của cơ thể như xương, cơ, mỡ, dây thần kinh, mạch máu,… Sarcoma mô mềm (soft tissue sarcoma – STS) phát triển ở cơ, mỡ, gân, dây chằng, mô xơ, mạch máu, chiếm khoảng 80% các trường hợp sarcoma, là loại ung thư nguy hiểm, với tỷ lệ sống thêm 5 năm chỉ khoảng 15% nếu đã di căn và khoảng 81% nếu chưa lan rộng. Trong STS, vi môi trường khối u (tumor microenvironment – TME) không chỉ hoạt động như một chất nền tăng trưởng cho tế bào ung thư mà còn là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi của khối u và đáp ứng điều trị. TME chứa hai thành phần tế bào trung tâm là đại thực bào liên quan đến khối u (tumor-associated macrophage – TAM) và nguyên bào sợi liên quan đến ung thư (cancer-associated fibroblast – CAF), sự tương tác giữa các tế bào và các phân tử tín hiệu giúp điều chỉnh sự tăng sinh, xâm lấn và di căn của khối u. CAF giải phóng nhiều phân tử tín hiệu như IL-6, TGF-β, PDGF, HIF-1α và SPP1, kích hoạt và thu hút TAM, đồng thời thúc đẩy sự phân cực của chúng về phía kiểu hình M2, được biết đến với hoạt động tiền ung thư. Các cytokine này kích thích sự hình thành mạch máu bất thường, tái cấu trúc chất nền ngoại bào (extracellular matrix – ECM) và cơ chế thoát miễn dịch. Đồng thời, TAM tiết ra IL-34, CSF1R, VEGF và MMP, giúp tăng cường hoạt hóa CAF và thúc đẩy sự tăng sinh và di cư của tế bào khối u. Tương tác hai chiều này tạo ra một vòng lặp: TAM kích hoạt CAF thông qua các yếu tố như SPP1, MMP2/9 và EGF, tăng cường khả năng tái cấu trúc ECM và hỗ trợ khối u xâm lấn của CAF. Ngược lại, CAF tiết ra các chất hoạt hóa PDGF và IL-6/STAT3, thúc đẩy sự tuyển dụng, sự sống sót và sự phân cực của TAM. Hơn nữa, trục này ức chế các phản ứng miễn dịch chống khối u: CAF sản xuất axit lactic và TGF-β, ức chế sự tăng sinh tế bào T, trong khi TAM biểu hiện PD-L1, ngăn chặn hoạt động của tế bào T thông qua con đường PD-1/PD-L1. Nhìn chung, mạng lưới kết hợp TAM-CAF tổ chức lại vi môi trường khối u theo hướng ủng hộ xơ hóa, ức chế miễn dịch và ủng hộ sinh mạch, tăng cường sự tăng sinh, di cư và trốn tránh miễn dịch của tế bào khối u trong các khối u mô mềm. TÀI LIỆU THAM KHẢO Zhou J., et al. (2025). The prognostic role of tumor-associated macrophage and cancer-associated fibroblast interactions in soft tissue sarcoma microenvironments. iScience 28(11): 113851. DOI: https://doi.org/10.1016/j.isci.2025.113851
24/01/2026
Ghép tế bào gốc tạo máu đồng loại: người hiến trẻ tuổi mặc dù không cùng huyết thống nên được ưu tiên hơn người hiến cùng huyết thống nhưng lớn tuổi
Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng tuổi người hiến đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của ghép tế bào gốc tạo máu đồng loại.
24/01/2026
Liệu pháp tế bào gốc chỉnh sửa gen cho bệnh lý huyết sắc tố
Chỉnh sửa tế bào gốc tạo máu sau đó ghép cho bệnh nhân được xác nhận là phương pháp điều trị hiệu quả cho bệnh lý huyết sắc tố.
24/01/2026
Kết quả cấy ghép tế bào gốc tạo máu ở 813 bệnh nhi thiếu máu Fanconi
Thiếu máu Fanconi là một bệnh di truyền hiếm gặp, không đồng nhất về mặt di truyền và lâm sàng, đặc trưng bởi các bất thường bẩm sinh và mắc phải, suy tủy xương và tăng nguy cơ mắc các bệnh ác tính. Thiếu máu Fanconi được công nhận là nguyên nhân phổ biến nhất gây ra suy tủy xương (bone marrow failure – BMF) di truyền hoặc thiếu máu bất sản (aplastic anemia – AA), có liên quan chặt chẽ với sự xuất hiện các bất thường tiền ác tính và có thể chuyển thành hội chứng loạn sản tủy (myelodysplastic syndrome – MDS) và bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính (acute myeloid leukemia – AML). Ghép tế bào gốc tạo máu (hematopoietic stem cell transplantation – HSCT) đồng loại được xác định là lựa chọn điều trị duy nhất cho bệnh nhân thiếu máu Fanconi liên quan đến BMF/AA và AML/MDS. Trong một báo cáo đăng trên tạp chí Blood (tạp chí thuộc Hiệp hội Huyết học Hoa Kỳ – American Society of Hematology – ASH), một nhóm nghiên cứu đã tiến hành phân tích hồi cứu đa trung tâm, trên 813 trẻ em mắc thiếu máu Fanconi ở 137 trung tâm, được ghép tế bào gốc tạo máu lần đầu trong giai đoạn năm 2010 – 2018, với 778 chỉ định suy tủy xương/thiếu máu bất sản (BMF/AA) và 35 chỉ định bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính/hội chứng loạn sản tủy (AML/MDS). Một số kết quả chính: - Thời gian mọc mảnh ghép (engraftment) trung bình với bạch cầu trung tính là 15 ngày, tỷ lệ tích lũy phục hồi bạch cầu trung tính ngày thứ 100 là 95%; thời gian mọc mảnh ghép trung bình với tiểu cầu là 20 ngày, tỷ lệ tích lũy phục hồi tiểu cầu ngày thứ 100 là 88%. - Tỷ lệ ghép thất bại (graft failure) nguyên phát là 2% (n = 17), thứ phát là 3% (n = 21). - Tỷ lệ sống tổng thể (overall survival – OS) sau 1 năm là 87%, sau 5 năm là 83%. OS thấp hơn đáng kể ở nhóm bệnh nhân ≥10 tuổi và nhóm ghép do AML/MDS so với các nhóm đối lập. OS tương đương giữa nhóm có người hiến phù hợp cùng hoặc không cùng huyết thống, đồng thời cao hơn nhóm có người hiến không phù hợp cùng hoặc không cùng huyết thống. - Tỷ lệ sống không biến cố (Event-free survival – EFS) sau 1 năm là 82%, sau 5 năm là 78%, cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tương tự như OS. - Tỷ lệ sống không GvHD và không tái phát (GVHD-free, relapse-free survival – GRFS) sau 1 năm là 73%, sau 5 năm là 70%, cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tương tự như OS và EFS. - Tổng cộng 123 ca tử vong trong quá trình theo dõi, với 93 trường hợp (76%) tử vong liên quan đến ghép: bệnh mảnh ghép chống chủ (Graft-versus-host disease – GvHD) n = 40 (33%), nhiễm trùng n = 34 (28%), suy cơ quan n = 7 (6%), tái phát n = 14 (11%),… - Bệnh mảnh ghép chống chủ (GvHD): tỷ lệ tích lũy GvHD cấp tính vào ngày thứ 100 sau ghép ở độ 2 – 4 là 23%, độ 3 – 4 là 12%, tỷ lệ tích lũy GvHD mạn tính sau 1 năm là 8%, sau 5 năm là 12%. - 16 bệnh nhân (2%) phát triển bệnh ác tính thứ phát (bệnh bạch cầu, hội chứng loạn sản tủy, bệnh u lympho,…) là điểm thường thấy ở bệnh nhân thiếu máu Fanconi. - Ảnh hưởng của liệu pháp huyết thanh: trong 441 bệnh nhân có người hiến phù hợp cùng huyết thống, các bệnh nhân sử dụng alemtuzumab có OS, EFS, GRFS cao hơn và tỷ lệ mắc GvHD thấp hơn, các bệnh nhân không sử dụng liệu pháp huyết thanh có OS, EFS, GRFS kém hơn và tỷ lệ mắc GvHD cao hơn (nhóm còn lại sử dụng Antithymocyte Globulin – ATG). Những dữ liệu này củng cổ thêm vai trò của ghép tế bào gốc tạo máu trong điều trị thiếu máu Fanconi, điển hình là các bệnh nhân suy tủy xương/thiếu máu bất sản (BMF/AA) và bệnh bạch cầu dòng tủy cấp tính/hội chứng loạn sản tủy (AML/MDS). Bệnh nhân nên được ghép sớm (<10 tuổi) nếu tìm được người hiến phù hợp, với người hiến phù hợp có hoặc không có quan hệ huyết thống, sử dụng alemtuzumab,… là một số yếu tố giúp tăng tỷ lệ thành công, giảm nguy cơ GvHD của ca ghép. Bệnh nhân thiếu máu Fanconi dường như có nguy cơ ung thư không thay đổi sau ghép tế bào gốc, dữ liệu này cần theo dõi lâu hơn để có đánh giá đầy đủ. TÀI LIỆU THAM KHẢO Lum S. H., et al. (2024). Outcomes of hematopoietic stem cell transplantation in 813 pediatric patients with Fanconi anemia. Blood, 144(12), 1329-1342. DOI: https://doi.org/10.1182/blood.2023022751
24/01/2026
Thảo luận về Orca-T, một liệu pháp tế bào mới có thể thay ghế ghép tế bào gốc tạo máu đồng loại (alloHSCT)
Ghép tế bào gốc tạo máu (Hematopoietic Stem Cell Transplantation – HSCT) là quá trình đưa các tế bào gốc tạo máu (HSC) (thường lấy từ tủy xương, máu ngoại vi hoặc máu cuống rốn) để nhân lên trong cơ thể bệnh nhân và sản xuất các tế bào máu bình thường. HSCT thường được thực hiện cho những bệnh nhân mắc một số bệnh về máu hoặc tủy xương, như đa u tủy xương, bệnh bạch cầu dòng tủy/dòng lympho cấp tính/mạn tính, một số loại u lympho,… HSCT có thể là tự thân (autologous HSCT – autoHSCT) trong đó sử dụng tế bào gốc của chính bệnh nhân, hoặc đồng loại (allogeneic HSCT – alloHSCT) với việc sử dụng tế bào gốc của người hiến, đôi khi một số tài liệu còn chia thêm nhóm “đồng gen” (syngeneic HSCT) là trường hợp sử dụng tế bào gốc của anh chị em song sinh cùng trứng. Trong thực hành alloHSCT, biến chứng nghiêm trọng được quan tâm nhất là bệnh mảnh ghép chống chủ (graft versus host disease – GvHD), xảy ra khi các tế bào lympho T có khả năng miễn dịch từ mô ghép của người hiến nhận diện các mô của người nhận là tác nhân lạ, và bắt đầu phản ứng miễn dịch chống lại chúng, dẫn đến tổn thương mô ở nhiều cơ quan khác nhau. GvHD có thể chia thành nhiều loại với những đặc điểm và chiến lược theo dõi, điều trị khác nhau: GvHD cấp tính cổ điển (xuất hiện trong vòng 100 ngày sau khi ghép với các triệu chứng lâm sàng điển hình của bệnh GVHD cấp tính); GVHD cấp tính dai dẳng, tái phát hoặc khởi phát muộn (biểu hiện các triệu chứng lâm sàng của GVHD cấp tính cổ điển nhưng sau 100 ngày kể từ ngày ghép); GvHD mạn tính cổ điển (xuất hiện sau 100 ngày ghép với các đặc điểm lâm sàng cổ điển của bệnh GVHD mạn tính), hội chứng chồng chéo (có thể xảy ra bất cứ lúc nào sau khi ghép với các đặc điểm của cả GVHD cấp tính và mạn tính). Trong nỗ lực hạn chế GvHD khi ghép đồng loại, Orca Bio đã phát triển liệu pháp Orca-T, được tạo ra từ các tế bào T điều hòa, tế bào gốc CD34+ và tế bào T thông thường thu nhận từ máu ngoại vi của người hiến phù hợp. Liệu pháp này đang được đánh giá trong thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 3 Precision-T (NCT05316701) để đánh giá tính an toàn, hiệu quả và khả năng dung nạp so với alloHSCT thông thường ở những bệnh nhân mắc bệnh bạch cầu tủy cấp tính (AML), bệnh bạch cầu lympho cấp tính (ALL), hội chứng loạn sản tủy nguy cơ cao (MDS) và bệnh bạch cầu cấp tính kiểu hình hỗn hợp (MPAL). Trong một cuộc thảo luận trên OncLive, các khách mời là những nhà khoa học uy tín đã đưa ra những quan điểm về liệu pháp Orca-T, với những tính năng chính như: sự suy giảm tế bào T của người hiến giúp giảm thiểu nguy cơ mắc GVHD trong khi vẫn duy trì hiệu quả điều trị, phương pháp tiếp cận được cải biến để tăng cường khả năng mọc mảnh ghép và giảm các biến chứng do miễn dịch. Sử dụng Orca-T, bệnh nhân chỉ cần dùng một loại thuốc ức chế miễn dịch duy nhất là Tacrolimus thay vì dùng hỗn hợp nhiều thuốc như alloHSCT, giúp giảm độc tính liên quan đến các phác đồ ức chế miễn dịch rộng, đồng thời kiểm soát các phản ứng miễn dịch tốt hơn. Xem chi tiết bài thảo luận tại https://www.onclive.com/view/orca-t-a-new-allogeneic-cell-therapy---defining-orca-t-and-potential-advantages-compared-with-conventional-allohsct
24/01/2026
Hiệu quả điều trị bệnh hồng cầu hình liềm bằng phương pháp ghép tủy xương từ người hiến “phù hợp một nửa” (haploidentical)
Bệnh hồng cầu hình liềm (hay thiếu máu hồng cầu hình liềm – Sickle cell anemia) là một dạng thiếu máu di truyền do đột biến gen sản xuất hemoglobin – hợp chất không thể thiếu trong cấu trúc hồng cầu, dẫn đến không có đủ các tế bào hồng cầu khỏe mạnh để vận chuyển oxy trong cơ thể. Khác với người bình thường có các tế bào hồng cầu hình đĩa và linh hoạt, trong cơ thể người bệnh hồng cầu hình liềm, các tế bào hồng cầu trở nên cứng, dính và có hình dạng giống như lưỡi liềm hoặc mặt trăng khuyết, chúng không vận chuyển được oxy, đồng thời dễ bị mắc kẹt trong mạch máu làm chậm hoặc ngăn chặn các hồng cầu khác mang oxy đến các bộ phận của cơ thể. Liệu pháp tế bào và chỉnh sửa gen được kỳ vọng có thể điều trị bệnh một cách hiệu quả, trong đó một số sản phẩm đã được cấp phép chính thức, ví dụ Lyfgenia (lovotibeglogene autotemcel) và Casgevy (exagamglogene autotemcel) được FDA Hoa Kỳ phê duyệt cuối năm 2023. Theo một thử nghiệm được hoàn thành tại Anh mới đây, một quy trình cấy ghép tủy xương đã được chứng minh là an toàn và có thể chữa khỏi bệnh cho bệnh nhân mắc hồng cầu hình liềm, với chi phí thấp hơn so với các sản phẩm liệu pháp chỉnh sửa gen. Kết quả thử nghiệm mới được đăng tải trên tạp chí NEJM Evidence cuối tháng 02/2025. Đây là một thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm giai đoạn II (mã số NCT03263559), nhãn mở, thử nghiệm phương pháp ghép tủy xương đơn bội cường độ giảm. Ghép tủy xương cung cấp cho bệnh nhân các tế bào gốc tạo máu được lấy từ người hiến khỏe mạnh, những tế bào này sẽ tạo ra những tế bào máu bình thường không mang đột biến gây ra hồng cầu hình liềm. Tủy xương được lấy từ người hiến tặng "phù hợp một nửa” (haploidentical) về các dấu hiệu miễn dịch với bệnh nhân để hạn chế sự đào thải miễn dịch, ví dụ như cha mẹ, con cái, anh chị em ruột, cháu trai/cháu gái, chú dì hoặc anh chị em họ của bệnh nhân. Điều này có nghĩa là các yếu tố miễn dịch có mặt và hoạt động trên các tế bào tủy của người hiến phải phù hợp với ít nhất một nửa các yếu tố đó trên các tế bào của người nhận. Trong số 54 người tham gia nghiên cứu (độ tuổi từ 15,5 đến 43,2), có 42 người được ghép tủy xương, trước khi ghép được hóa trị liều thấp và xạ trị toàn thân, sau ghép được dùng cyclophosphamide và một số loại thuốc khác (mycophenolate mofetil, sirolimus, fludarabine,…) để tránh mảnh ghép chống chủ (GvHD). Kết quả cho thấy sau 2 năm điều trị, 95% bệnh nhân vẫn còn sống sót, với 88% bệnh nhân sống sót không có biến cố bất lợi (chỉ có 2 người bị suy ghép nguyên phát, 1 người bị suy ghép thứ phát). Tỷ lệ mắc GvHD cấp tính độ 3-4 vào ngày 100 chỉ là 4,8%, trong khi tỷ lệ GvHD mạn tính sau 2 năm là 22,4%. Có 2 trong số 4 trường hợp tử vong được xác định do biến chứng nhiễm trùng sớm. Những kết quả trên chứng minh phương pháp này có tỷ lệ thành công rất cao, tương đương hoặc tốt hơn những sản phẩm liệu pháp gen đã được phê duyệt. Các nhà nghiên cứu cũng thực hiện so sánh phương pháp này và liệu pháp gen. Phương pháp ghép tủy xương có thể áp dụng với hầu hết các bệnh nhân hồng cầu hình liềm, trong khi liệu pháp gen đòi hỏi bệnh nhân cần trải qua hóa trị liều cao, có nguy cơ tổn thương một số cơ quan đích hoặc nguy cơ mắc bệnh bạch cầu, nên nhiều người không đủ điều kiện thực hiện. Một ca ghép tủy chỉ yêu cầu bệnh nhân nằm viện khoảng 8 ngày, còn đối với liệu pháp gen là 6-8. Số lần truyền máu trung bình sau khi ghép tủy xương là 6, thấp hơn nhiều con số 50 lần khi điều trị bằng liệu pháp gen. Tổng chi phí cho một ca ghép tủy xương thấp hơn 4-6 lần so với một ca điều trị bằng liệu pháp gen. Đây là một tín hiệu rất tích cực trong điều trị bệnh hồng cầu hình liềm, với tỷ lệ thành công cao, an toàn, chi phí thấp. Đồng thời, bệnh nhân được tăng cơ hội điều trị do không cần tìm người hiến hoàn toàn phù hợp miễn dịch mà chỉ cần cấy ghép phù hợp một nửa. TÀI LIỆU THAM KHẢO Kassim A. A., et al. (2025). Haploidentical bone marrow transplantation for sickle cell disease. NEJM evidence, 4(3). DOI: https://doi.org/10.1056/EVIDoa2400192.
24/01/2026
Thuốc điều trị ung thư cyclophosphamide giúp bệnh nhân ghép tế bào gốc tạo máu tránh được hiện tượng mảnh ghép chống vật chủ (GvHD)
Cấy ghép tế bào gốc tạo máu là phương pháp được áp dụng trong điều trị và hỗ trợ điều trị nhiều bệnh lý ung thư, nhằm khôi phục hệ thống tạo máu cho bệnh nhân. Độ tương thích của người hiến được xác định bằng tập hợp các dấu hiệu protein trên tế bào máu gọi là kháng nguyên bạch cầu người (Human Leukocyte Antigen – HLA), với 8 locus HLA–A, HLA–B, HLA–C, HLA–DR. Độ phù hợp hoàn toàn được xác định khi đạt điểm 8/8 (ngay cả trong những trường hợp anh chị em ruột, xác suất phù hợp hoàn toàn là 25%), còn độ phù hợp một phần được xác định khi đạt điểm 4/8 đến 7/8 (tỷ lệ gặp 50% ở anh chị em ruột). Khi ghép với độ phù hợp HLA thấp, các tế bào được ghép sẽ kích thích phản ứng miễn dịch trầm trọng ở bệnh nhân, gây nên tác dụng phụ nguy hiểm nhất (có thể gây chết người) của cấy ghép: mảnh ghép chống chủ (graft-versus-host disease – GvHD). Theo Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ, GvHD thường xảy ra ở 60% đến 80% ca ghép mà người hiến tặng và người nhận không có quan hệ họ hàng. Theo một nghiên cứu được báo cáo tại Hội nghị 2024 của Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Hoa Kỳ (ASCO), việc sử dụng một loại thuốc điều trị ung thư là cyclophosphamide vài ngày sau khi ghép tế bào gốc có thể giúp các trường hợp cấy ghép phù hợp một phần giảm thiểu hiện tượng GvHD. Khi theo dõi trên 70 bệnh nhân ung thư máu tiến triển được ghép phù hợp một phần có sử dụng cyclophosphamide, tỷ lệ bệnh nhân sống thêm toàn bộ (overall survival – OS) sau 1 năm là 79%, tương đương với những người được nhận sản phẩm cấy ghép từ người hiến phù hợp hoàn toàn. Sau một năm, 51% số bệnh nhân không còn phát hiện GvHD và không tái phát bệnh. Nhóm nghiên cứu mô tả dữ liệu này “rất ấn tượng”, đặc biệt là vì đã ghi nhận những bệnh nhân có nguy cơ cao và tuổi trung bình là 65. Những kết quả này đã mang lại cơ hội cho những bệnh nhân ung thư máu tìm được người hiến phù hợp hơn (đặc biệt là những người hiến trẻ, khỏe mạnh) và tỷ lệ ghép thành công cao hơn, khi mà sự phù hợp HLA không còn yêu cầu ở mức hoàn toàn. Ở mức độ phù hợp HLA ở mức 5/8 trở lên, trên 99% dân số sẽ tìm được người hiến tặng. Các nhà nghiên cứu cho biết cyclophosphamide ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong thập kỷ qua để tăng cơ hội ghép tế bào gốc thành công từ người hiến tặng phù hợp HLA một phần. Hiện tại thử nghiệm lâm sàng giai đoạn II với hơn 300 bệnh nhân ở 30 cơ sở y tế tại Hoa Kỳ đang được thực hiện (mã số thử nghiệm NCT04904588, có thể tra cứu trên https://clinicaltrials.gov/). Những mục tiêu tiếp theo mà thử nghiệm hướng đến bao gồm tăng cường độ điều trị trước khi cấy ghép, áp dụng phác đồ cho các bệnh nhân nhi, tối ưu hóa việc sự dụng cyclophosphamide và kết hợp các phương pháp điều trị khác để giảm thiểu độc tính và nhiều vấn đề liên quan khác. TÀI LIỆU THAM KHẢO - Charlotte Schubert, “The Imperfect Match: Offering Transplants to More Blood Cancer Patients” (https://news.med.miami.edu/offering-transplants-to-more.../) - Al Malki M. M., et al. (2024). Post-transplant cyclophosphamide-based graft-versus-host disease prophylaxis following mismatched unrelated donor peripheral blood stem cell (PBSC) transplantation. Journal of Clinical Oncology 42 (16 suppl). Meeting Abstract: 2024 ASCO Annual Meeting I (https://ascopubs.org/doi/10.1200/JCO.2024.42.16_suppl.6503)
23/01/2026
Tình trạng kinh tế xã hội của người hiến tế bào ảnh hưởng đến kết quả cấy ghép tế bào gốc tạo máu (HSC) trong điều trị ung thư.
Theo một nghiên cứu mới công bố trên PNAS (Proceedings of the National Academy of Sciences) ngày 15/07/2024, tình trạng kinh tế xã hội của người hiến tế bào ảnh hưởng đến kết quả sức khỏe của bệnh nhân ung thư máu được ghép tế bào gốc tạo máu, bất kể tình trạng kinh tế xã hội của bệnh nhân ung thư. Nghiên cứu hồi cứu được thực hiện trên 2.005 bệnh nhân ung thư máu được điều trị bằng ghép tế bào gốc tạo máu ở 125 bệnh viện tại Hoa Kỳ, thời gian theo dõi là 120 tháng. Với việc phân tầng tương đối đồng đều các đối tượng nghiên cứu thành 4 nhóm, nghiên cứu đã chỉ ra những bệnh nhân được nhận tế bào từ người hiến có kinh tế xã hội ở nhóm khó khăn nhất đã giảm 9,7% tỷ lệ sống toàn trạng và tăng 6,6% tỷ lệ tử vong liên quan đến cấy ghép trong ba năm so với nhóm nhận tế bào từ người hiến có kinh tế xã hội ở nhóm tốt nhất. Kết quả này phù hợp với những nghiên cứu trước đây liên quan đến sự bất lợi về kinh tế xã hội với chức năng tế bào miễn dịch và quá trình tạo máu bị thay đổi, chúng thực sự tồn tại dai dẳng ngay cả khi tế bào được chuyển vào môi trường vật chủ mới (người được hiến tặng). Sự khác biệt về tỷ lệ sống sót toàn trạng (A), tỷ lệ tử vong liên quan đến điều trị (B), tỷ lệ sống thêm không bệnh (C) và tỷ lệ tái phát (D) được phân tầng theo tình trạng kinh tế xã hội của người hiến tặng (tình trạng kinh tế xã hội giảm dần từ Nhóm 1 đến Nhóm 4). Nhóm nghiên cứu mong muốn tiến hành những nghiên cứu sâu hơn để điều chỉnh các yếu tố sinh lý nhằm đưa ra những biện pháp giảm thiểu các kết quả bất lợi cho sức khỏe do tình trạng kinh tế xã hội gây ra. Đồng thời, phát hiện này cho thấy một trong những ảnh hưởng sâu sắc đến sức khỏe của sự bất bình đẳng xã hội và nêu bật nhu cầu cấp thiết về chăm sóc sức khỏe cộng đồng. TÀI LIỆU THAM KHẢO Turcotte L. M., et al. (2024). The health risk of social disadvantage is transplantable into a new host. Proceedings of the National Academy of Sciences, 121(30), e2404108121. DOI: https://doi.org/10.1073/pnas.240410812
23/01/2026